Latest Post


Hỏi:  
Tôi thấy tại nhiều ngã tư có tín hiệu cho phép rẽ phải khi đèn đỏ, có phải giờ luật cho phép như vậy không? Vì thế tại những nơi không có đèn báo thì tôi vẫn được rẽ.

Đáp:
Căn cứ Luật giao thông đường bộ, khi có tín hiệu đèn đỏ, người điều khiển phương tiện được phép rẽ phải trong 2 trường hợp sau:

- Dựa vào hiệu lệnh của người điều khiển giao thông. Lúc này, bạn tuân theo hiệu lệnh mà không phải tuân thủ tín hiệu đèn giao thông.

- Dựa vào biển báo cho phép rẽ phải. Lúc này các phương tiện phải bật đèn tín hiệu xin đường và nhường đường cho người đi bộ.

Ngoài những trường hợp trên, nếu người tham gia giao thông cố tình rẽ phải khi có tín hiệu đèn đỏ thì bị coi như vượt đèn đỏ và bị xử phạt hành chính theo Nghị định 46.

Theo đó, mức tiền phạt với ôtô từ 1,2 đến 2 triệu đồng. Người đi môtô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), xe tương tự xe môtô và các loại xe tương tự xe gắn máy sẽ bị phạt từ 300.000 đến 400.000 đồng. Người đi xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác sẽ bị phạt 60.000-80.000 đồng.

Với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dụng số tiền phạt từ 400.000 đến 600.000 đồng.

Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an





Sau khi có phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc Tế về vụ kiển biển Đông, Trung Quốc ngay lập tức đã lên tiếng phản đối. 
Tiếp theo, trong những ngày gần đây, khối ASEAN đối mặt với việc khó tìm kiếm được sự đồng thuận giữa các nước thành viên để có thể đưa ra tuyên bố chung về vấn đề biển Đông vì vướng phải sự đối kháng từ Cambodia. Xem ra chiến lược “viễn giao-cận công” và thế liên hoành chống hợp tung từ thời Chiến quốc vẫn được Trung Quốc sử dụng trên biển Đông bằng việc đưa ra quyền lợi với Cambodia và tăng cường việc gây hấn với Việt Nam trong vùng tranh chấp, cũng như tìm mọi cách phá vỡ sự hợp tác của các quốc gia ASEAN có liên quan.


Hình ảnh mà Trung Quốc đang cố tạo dựng ra trong vụ việc chủ quyền trên biển Đông là một Châu Á, nơi mà các quốc gia không hề muốn sử dụng các thủ tục pháp lý quốc tế để giải quyết các tranh chấp với nhau. Tuy nhiên, đó có thực sự là một hình ảnh phản ánh chính xác cách mà các quốc gia Châu Á xử sự trong những hồ sơ tranh chấp chủ quyền trong lịch sử cận đại hay không? Tác giả Tommy Koh có một cái nhìn rất khác về cái mà ông gọi là “Giải quyết tranh chấp kiểu Á Đông” trong bài viết sau đây.
—
Trung Quốc luôn kiên định lập trường không tham gia vào vụ kiện tranh chấp trên biển Đông với Philippines. Nhật Bản không chấp nhận là giữa họ và Trung Quốc có những tranh chấp liên quan đến đảo Điếu Ngư (Senkaku/Diaoyu). Nam Hàn từ chối lời đề nghị giải quyết tranh chấp về đảo Dokdo/Takeshima của Nhật Bản thông qua Toà Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice – ICJ) và cho rằng giữa hai nước chả có gì để tranh chấp. Tất cả những diễn biến ấy khiến cho nhiều người có suy nghĩ là người châu Á hình như không hứng thú gì với việc sử dụng các chế tài pháp lý dựa trên luật quốc tế để giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa họ với nhau. Nhưng thật ra suy nghĩ đó là vô cùng sai lầm.

ST_20150610_STBITOMMY10G_1394328e_2x

Tình hình Đông Nam Á
Những nước Đông Nam Á vốn có một bảng thành tích khá tích cực trong việc sử dụng các thủ tục pháp lý quốc tế để giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa họ. Người viết có thể kể ra một số hồ sơ có tầm quan trọng nhất sau đây.
  • Hồ sơ Preah Vihear
Vụ kiện tụng đầu tiên giữa hai nước Đông Nam Á thông qua việc sử dụng thủ tục tố tụng của Toà Công Lý Quốc Tế ICJ là hồ sơ về ngôi chùa Preah Vihear nằm giữa biên giới hai nước Cambodia và Thailand. Cambodia đã nộp hồ sơ kiện Thailand vào năm 1959 và đến năm 1962, Toà Công Lý Quốc Tế đã tuyên bố Cambodia thắng kiện, cũng như trao chủ quyền của ngôi chùa cho Cambodia.

Nhưng ngặt một nỗi, đơn kiện của Cambodia không đòi hỏi tòa đưa ra phán quyết về một vấn đề rất liên quan, đó là chủ quyền của những lằn ranh giới và lãnh thổ xung quanh ngôi chùa. Và vì thế, đã không có kết luận gì từ phía Tòa Công Lý Quốc Tế về vấn đề pháp lý đó sau khi họ đưa ra phán quyết. Việc thiếu sót này đã dẫn đến những hiểu lầm cũng như xung đột biên giới giữa hai đất nước, Thailand và Cambodia, trong nhiều năm.

site_1224_0017-750-0-20130711145029

Đến năm 2011, Cambodia đã khiến cho cả thế giới kinh ngạc khi họ nộp đơn lên Tòa Công Lý Quốc Tế để yêu cầu tòa đưa ra lời diễn giải cho phán quyết năm 1962 của họ. Một cách chi tiết, Cambodia đã yêu cầu tòa phán quyết rằng Cambodia có chủ quyền với khu vực địa lý xung quanh ngôi chùa. Tòa Công Lý Quốc Tế đã đồng ý nhận đơn và đưa ra phán quyết, trao chủ quyền của khu vực địa lý xung quanh ngôi chùa cho Cambodia. Phán quyết của Tòa Công Lý Quốc Tế đã có được sự chấp nhận của cả hai nước có tranh chấp và hòa bình đã trở lại trên vùng biên giới giữa Cambodia và Thailand.
  • Hồ sơ Sipadan và Ligitan
Indonesia và Malaysia từng có tranh chấp về chủ quyền của hai hòn đảo Sipada và Ligitan.

Vào năm 1998, chính phủ của cả hai nước đã đồng ý sử dụng Tòa Công Lý Quốc Tế để giải quyết tranh chấp này. Đến năm 2002, tòa đã tuyên phán hai hòn đảo đó là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Malaysia. Tuy nhà nước Indonesia đã rất thất vọng trước kết quả, họ đã chấp nhận tuân thủ phán quyết của tòa.
  • Hồ sơ Pedra Branca/Pulau Batu Puteh
Năm 1847, nhà nước bảo hộ Anh Quốc ở Singapore đã chiếm giữ một hòn đảo với tên gọi Pedra Branca (trong tiếng Bồ Đào Nha), và còn được gọi là Pulau Batu Puteh trong tiếng Malay. Chính phủ Anh Quốc đã xây một ngọn hải đăng trên hòn đảo này và khánh thành nó vào năm 1851.

Từ đó cho đến năm 1979, chủ quyền của hòn đảo Pedra Branca được mặc định là của Singapore (là quốc gia có quyền thừa kế từ Anh Quốc) và không ai lên tiếng phản đối điều đó. Thế nhưng, vào năm 1979, Malaysia đã cho xuất bản một tấm bản đồ mới, trong đó có thêm vào hòn đảo ấy như là một phần của lãnh thổ Malaysia.

Tuy Singapore lúc đó đang có chủ quyền đối với hòn đảo Pedra Branca, chính phủ nước này đã đồng ý là thực chất đang có một tranh chấp về chủ quyền đối với nó, cũng như đã chủ động đề nghị các bên liên quan sử dụng Tòa Công Lý Quốc Tế để giải quyết tranh chấp.

Đến năm 2003, chính phủ hai nước Malaysia và Singapore đã đồng đệ đơn lên Tòa Công Lý Quốc Tế. Vào năm 2008, tòa đã tuyên phán chủ quyền của hòn đảo tranh chấp, Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, thuộc về Singapore và đá Middle Rocks thuộc về Malaysia. Còn bãi đá nằm dưới mặt nước biển khi thuỷ triều thấp (low-tide elevation), South Ledge, thì thuộc chủ quyền của quốc gia nào có lãnh hải ở đó.
  • Hồ sơ Myanmar – Bangladesh
Hai quốc gia Đông Nam Á khác cũng có tranh chấp với nhau về chủ quyền trên biển là Myanmar và Bangladesh.

Sau nhiều năm đàm phán song phương bất thành giữa hai quốc gia, hai chính phủ Myanmar và Bangladesh quyết định sử dụng các thủ tục pháp lý của Tòa Trọng tài Quốc Tế về Luật biển (International Tribunal for the Law of the Sea – gọi tắt là ITLOS) để giải quyết tranh chấp giữa họ. Hai quốc gia này đã yêu cầu Tòa ITLOS vẽ cho họ đường biên giới trên biển liên quan đến lãnh hải, khu vực kinh tế đặc quyền (EEZ) và thềm lục địa giữa hai nước. Vào năm 2012, Tòa ITLOS đã đưa ra phán quyết về vụ kiện và cả hai quốc gia đều chấp nhận các tuyên phán của tòa.

Đông Nam Á: gương “điển hình” của thế giới?

Thái độ tích cực của những quốc gia trong khối ASEAN (trong việc giải quyết các tranh chấp của họ) đã được các nước Nam Á chia sẻ và học tập. Tác giả có thể nêu ra một vài ví dụ như sau.

Như đã nói ở trên, Bangladesh đã giải quyết tranh chấp về chủ quyền trên biển với Myanmar qua thủ tục của Tòa ITLOS. Vào năm 2009, Bangladesh cũng đã tiến hành thủ tục sử dụng Tòa Trọng tài để giải quyết tranh chấp về ranh giới đường biển với Ấn Độ (India) dựa theo Công Ước Quốc Tế về Luật biển (UNCLOS), và Ấn Độ đã đồng ý. Vào năm ngoái, 2015, Tòa Trọng tài đã đưa ra phán quyết cho hồ sơ này và chính phủ của cả hai quốc gia đều đồng ý tuân thủ.

Còn giữa Ấn Độ và Pakistan lâu nay vốn có những quan hệ ngoại giao không được tốt đẹp lắm vì những quá khứ đầy chia cắt từ thời thuộc địa của Anh Quốc, đặc biệt là việc chia phần lại lãnh thổ 2 nước bởi chính quyền thuộc địa vào năm 1947.

Một trong những điểm bế tắc cho cuộc thương thảo giữa hai đất nước này là việc làm cách nào để có thể cùng nhau chia sẻ nguồn nước của sông Indus.

Dưới sự hướng dẫn của Ngân hàng Quốc Tế (World Bank), thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, ông Pandit Nehru, và Đại tướng Ayub Khan, tổng thống của Pakistan lúc ấy đã đồng ý ký kết một hiệp ước về sông Indus. Theo đó, chính phủ hai nước đồng ý sẽ sử dụng tòa trọng tài quốc tế để giải quyết tất cả các tranh chấp có liên quan đến con sông này khi không thể đàm phán được nữa.

Nehru_Ayub_indus_water_treaty_karachi_sept_16_1960

Buổi lễ ký kết Hiệp ước nước sông Indus.
Năm 2010, Pakistan đã đòi hỏi thực thi hiệp ước này khi xảy ra tranh chấp với Ấn Độ về các công trình thủy điện mà Ấn Độ đã xây dựng, và đã mở hồ sơ với Tòa Trọng tài. Đến năm 2013, Tòa Trọng tài đã đưa ra phát quyết rằng Ấn Độ có chủ quyền với sông Kishenganga và do đó cũng có cả thẩm quyền điều chỉnh dòng chảy của con sông này. Chính vì thế Ấn Độ có nghĩa vụ phải tuân thủ việc tạo ra một lượng nước tối thiểu đổ vào nó.

Những ví dụ kể trên, về những phương pháp giải quyết đa dạng để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia, cho phép chúng ta nhìn nhận rằng người dân châu Á, đặc biệt là ở các nước trong vùng Đông Nam Á và Nam Á, đã xem các thủ tục của các tòa trọng tài và tòa án quốc tế là những phương pháp khả thi để giải quyết vấn đề. Năm quốc gia Á Đông, bao gồm Cambodia, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines và Đông Timor, đã chấp nhận quyền tài phán bắt buộc (compulsory jurisdiction) của Tòa Công Lý Quốc Tế (ICJ). Hầu hết tất cả các quốc gia ở Châu Á là thành viên của UNCLOS.

Tuy thế, có một số người Châu Á, đặc biệt là những người sống trong khu vực Đông Bắc Á, thì ngược lại. Họ có vẻ ngần ngại trong việc sử dụng các chế tài pháp lý quốc tế, như tòa trọng tài, để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền giữa các nước. Điều khiến cho những người ấy không hài lòng khi sử dụng các thủ tục pháp lý này chính là việc các kết quả của những vụ kiện dựa theo các phương pháp như tòa trọng tài quốc tế thông thường là một bản án theo kiểu một ăn hai thua, nếu thua là thua trắng tay.

Vì lý do đó, tác giả thiết nghĩ nên đề nghị thêm một số phương pháp hầu tìm ra những cách giải quyết khác về những tranh chấp giữa các quốc gia. Trong đó có thể kể đến: 1)tìm hiểu tình tiết vụ kiện (fact-finding), 2) điều đình (mediation), 3) hòa giải (conciliation), và 4) đồng phát triển (joint development).
  • Tìm hiểu tình tiết vụ kiện
Trong một số hồ sơ, sự tranh chấp giữa hai quốc gia thường xuyên xoay quanh những vấn đề liên quan đến tình tiết của vụ việc (facts) chứ không hẳn là vấn đề về luật pháp (law). Hồ sơ về vụ kiện Cải tạo và Lấn đất (Land Reclamation) giữa Malaysia và Singapore là một ví dụ cho điều này.

Theo hồ sơ của vụ kiện, Malaysia cáo buộc những hoạt động cải tạo đất của Singapore đã xâm phạm vào lãnh thổ của Malaysia, gây ra những thiệt hại về môi trường biển cũng như ảnh hưởng bất lợi cho việc sinh kế của những ngư dân Malaysia.

Sau khi tiến hành thủ tục kiện Singapore lên Tòa ITLOS, Malaysia lại tiến hành nộp đơn đòi hỏi thêm một số biện pháp lâm thời đối với Singapore. Trong phán quyết năm 2003, tòa ITLOS đã từ chối yêu cầu đó của Malaysia. Ngược lại, tòa ITLOS đã bắt buộc chính phủ hai nước phải nhanh chóng thành lập một nhóm chuyên gia độc lập gồm 4 người để tìm hiểu hồ sơ sự việc.

Sau một năm nghiên cứu, 4 vị chuyên gia độc lập đã nộp lên một bản báo cáo đồng thuận gửi đến tòa và phần lớn đã “giải oan” cho Singapore. Bản báo cáo đã được chính phủ 2 nước chấp nhận cũng như cả hai đều đã thương thảo và đạt được một thoả thuận êm đẹp cho vụ tranh chấp dựa trên những chi tiết về vụ việc mà báo cáo đã đưa ra.
  • Điều đình
Điều đình (mediation) là một hình thức giải quyết vấn đề theo nguyên tắc tự nguyện và kết quả thường là một phương pháp có lợi cho cả đôi bên (win-win outcome).

Một ví dụ cho một cuộc điều đình thành công là hồ sơ hòa giải vụ tranh chấp dai dẳng giữa chính phủ Indonesia và Phong Trào Đòi Tự Do cho ACEH (Free ACEH Movement).

Ngay sau khi cơn sóng thần tàn phá vùng biển Ấn Độ Dương (Indian Ocean) xảy ra vào năm 2004, cả hai phía của vụ tranh chấp này đã tiếp xúc với cựu tổng thống của Phần Lan (Finland), ông Martti Ahtisaari, để yêu cầu ông đứng ra làm người điều phối cho vụ điều đình giữa họ. Và với một biểu hiện xứng đáng được nhận giải Nobel Hòa Bình, ông Ahtisaari đã thành công trong việc thành lập một hòa ước cho vụ tranh chấp này vào năm 2005.
  • Hòa Giải
Hòa giải cũng là một phương pháp giải quyết tranh chấp một cách tự nguyện dựa trên nguyên tắc cả hai cùng có lợi.

3 người bạn tốt của tác giả, ông Hans Anderson người Iceland, ông Jens Evensen người Norway (Na Uy) và ông Elliot Richard người Mỹ, là thành viên của một ủy ban liên minh giữa Iceland và Na Uy được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa hai quốc gia về thềm lục địa.

Ông Richardson đã được cả hai nước Iceland và Na Uy bổ nhiệm làm chủ tịch nhằm đảm bảo tính công bằng cho ủy ban này. Kết quả là ủy ban liên minh giữa hai quốc gia đã đề xuất một giải pháp khả thi cho tranh chấp và đã được các bên liên quan chấp nhận.
  • Đồng phát triển
Nhiều năm trước, nhà lãnh đạo của Trung Quốc, Deng Xiaoping (Đặng Tiểu Bình), đã đề nghị các nước hãy gác bỏ những đòi hỏi về pháp lý qua một bên và tập trung vào việc hợp tác để cùng khai thác tài nguyên trong những lãnh thổ có tranh chấp và chia sẻ chúng.

Trên thực tế, những kế hoạch đồng phát triển đã được các nước sử dụng để giải quyết tranh chấp, mà điển hình là ví dụ của Malaysia và Thailand (Thái Lan) khi hai nước đã hợp tác để khai thác khoán sản dầu khí trong khu vực thềm lục địa ở Vịnh Thái Lan (Gulf of Thailand) và chia sẻ lợi ích. Kế hoạch đồng phát triển này đã xúc tiến vào năm 1979 và được cho là thành công rực rỡ.

Cách giải quyết theo kiểu Châu Á

Để kết luận cho bài viết của mình, tác giả muốn nhấn mạnh 3 điểm.

Đầu tiên, người dân Châu Á mong muốn châu lục của mình được sống trong hòa bình, phát triển, và ổn định. Họ cũng mong muốn có được một xã hội pháp trị mạnh mẽ và tất cả các tranh chấp giữa các quốc gia được giải quyết trong êm đẹp và đúng theo luật pháp chứ không phải dựa trên những thứ mù mờ nhưng lại hay được xem có vẻ như là đúng.

Thứ hai, ngoại trừ Trung Quốc, các quốc gia Châu Á khác cũng như các công dân của họ không hề có những thái độ tiêu cực đối với việc sử dụng các thủ tục pháp lý hay các tòa trọng tài, tòa án quốc tế để giải quyết tranh chấp giữa họ với các nước khác.

Thứ ba và cuối cùng, ngoài thủ tục của các tòa trọng tài và tòa án quốc tế, chúng ta cần phải tìm kiếm và sử dụng các phương pháp tự nguyện và có lợi cho tất cả các bên (win-win) trong việc đưa ra giải pháp cho những tranh chấp, chẳng hạn như các nghiên cứu tìm hiểu tình tiết của hồ sơ, các phiên điều đình, hoà giải, và cả các kế hoạch đồng phát triển.

Từ trước đến nay, các quốc gia ở Châu Á vốn vẫn giải quyết những tranh chấp giữa họ bằng những thủ tục pháp lý quốc tế. Bây giờ là lúc Trung Quốc cũng phải noi gương theo họ và nên bắt đầu chấp nhận một số phương pháp tự nguyện như tham gia vào các cuộc điều đình để giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực./.
Đọc thêm





Sau khi có phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc Tế về vụ kiển biển Đông, Trung Quốc ngay lập tức đã lên tiếng phản đối. 
Tiếp theo, trong những ngày gần đây, khối ASEAN đối mặt với việc khó tìm kiếm được sự đồng thuận giữa các nước thành viên để có thể đưa ra tuyên bố chung về vấn đề biển Đông vì vướng phải sự đối kháng từ Cambodia. Xem ra chiến lược “viễn giao-cận công” và thế liên hoành chống hợp tung từ thời Chiến quốc vẫn được Trung Quốc sử dụng trên biển Đông bằng việc đưa ra quyền lợi với Cambodia và tăng cường việc gây hấn với Việt Nam trong vùng tranh chấp, cũng như tìm mọi cách phá vỡ sự hợp tác của các quốc gia ASEAN có liên quan.


Hình ảnh mà Trung Quốc đang cố tạo dựng ra trong vụ việc chủ quyền trên biển Đông là một Châu Á, nơi mà các quốc gia không hề muốn sử dụng các thủ tục pháp lý quốc tế để giải quyết các tranh chấp với nhau. Tuy nhiên, đó có thực sự là một hình ảnh phản ánh chính xác cách mà các quốc gia Châu Á xử sự trong những hồ sơ tranh chấp chủ quyền trong lịch sử cận đại hay không? Tác giả Tommy Koh có một cái nhìn rất khác về cái mà ông gọi là “Giải quyết tranh chấp kiểu Á Đông” trong bài viết sau đây.
—
Trung Quốc luôn kiên định lập trường không tham gia vào vụ kiện tranh chấp trên biển Đông với Philippines. Nhật Bản không chấp nhận là giữa họ và Trung Quốc có những tranh chấp liên quan đến đảo Điếu Ngư (Senkaku/Diaoyu). Nam Hàn từ chối lời đề nghị giải quyết tranh chấp về đảo Dokdo/Takeshima của Nhật Bản thông qua Toà Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice – ICJ) và cho rằng giữa hai nước chả có gì để tranh chấp. Tất cả những diễn biến ấy khiến cho nhiều người có suy nghĩ là người châu Á hình như không hứng thú gì với việc sử dụng các chế tài pháp lý dựa trên luật quốc tế để giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa họ với nhau. Nhưng thật ra suy nghĩ đó là vô cùng sai lầm.

ST_20150610_STBITOMMY10G_1394328e_2x

Tình hình Đông Nam Á
Những nước Đông Nam Á vốn có một bảng thành tích khá tích cực trong việc sử dụng các thủ tục pháp lý quốc tế để giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa họ. Người viết có thể kể ra một số hồ sơ có tầm quan trọng nhất sau đây.
  • Hồ sơ Preah Vihear
Vụ kiện tụng đầu tiên giữa hai nước Đông Nam Á thông qua việc sử dụng thủ tục tố tụng của Toà Công Lý Quốc Tế ICJ là hồ sơ về ngôi chùa Preah Vihear nằm giữa biên giới hai nước Cambodia và Thailand. Cambodia đã nộp hồ sơ kiện Thailand vào năm 1959 và đến năm 1962, Toà Công Lý Quốc Tế đã tuyên bố Cambodia thắng kiện, cũng như trao chủ quyền của ngôi chùa cho Cambodia.

Nhưng ngặt một nỗi, đơn kiện của Cambodia không đòi hỏi tòa đưa ra phán quyết về một vấn đề rất liên quan, đó là chủ quyền của những lằn ranh giới và lãnh thổ xung quanh ngôi chùa. Và vì thế, đã không có kết luận gì từ phía Tòa Công Lý Quốc Tế về vấn đề pháp lý đó sau khi họ đưa ra phán quyết. Việc thiếu sót này đã dẫn đến những hiểu lầm cũng như xung đột biên giới giữa hai đất nước, Thailand và Cambodia, trong nhiều năm.

site_1224_0017-750-0-20130711145029

Đến năm 2011, Cambodia đã khiến cho cả thế giới kinh ngạc khi họ nộp đơn lên Tòa Công Lý Quốc Tế để yêu cầu tòa đưa ra lời diễn giải cho phán quyết năm 1962 của họ. Một cách chi tiết, Cambodia đã yêu cầu tòa phán quyết rằng Cambodia có chủ quyền với khu vực địa lý xung quanh ngôi chùa. Tòa Công Lý Quốc Tế đã đồng ý nhận đơn và đưa ra phán quyết, trao chủ quyền của khu vực địa lý xung quanh ngôi chùa cho Cambodia. Phán quyết của Tòa Công Lý Quốc Tế đã có được sự chấp nhận của cả hai nước có tranh chấp và hòa bình đã trở lại trên vùng biên giới giữa Cambodia và Thailand.
  • Hồ sơ Sipadan và Ligitan
Indonesia và Malaysia từng có tranh chấp về chủ quyền của hai hòn đảo Sipada và Ligitan.

Vào năm 1998, chính phủ của cả hai nước đã đồng ý sử dụng Tòa Công Lý Quốc Tế để giải quyết tranh chấp này. Đến năm 2002, tòa đã tuyên phán hai hòn đảo đó là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Malaysia. Tuy nhà nước Indonesia đã rất thất vọng trước kết quả, họ đã chấp nhận tuân thủ phán quyết của tòa.
  • Hồ sơ Pedra Branca/Pulau Batu Puteh
Năm 1847, nhà nước bảo hộ Anh Quốc ở Singapore đã chiếm giữ một hòn đảo với tên gọi Pedra Branca (trong tiếng Bồ Đào Nha), và còn được gọi là Pulau Batu Puteh trong tiếng Malay. Chính phủ Anh Quốc đã xây một ngọn hải đăng trên hòn đảo này và khánh thành nó vào năm 1851.

Từ đó cho đến năm 1979, chủ quyền của hòn đảo Pedra Branca được mặc định là của Singapore (là quốc gia có quyền thừa kế từ Anh Quốc) và không ai lên tiếng phản đối điều đó. Thế nhưng, vào năm 1979, Malaysia đã cho xuất bản một tấm bản đồ mới, trong đó có thêm vào hòn đảo ấy như là một phần của lãnh thổ Malaysia.

Tuy Singapore lúc đó đang có chủ quyền đối với hòn đảo Pedra Branca, chính phủ nước này đã đồng ý là thực chất đang có một tranh chấp về chủ quyền đối với nó, cũng như đã chủ động đề nghị các bên liên quan sử dụng Tòa Công Lý Quốc Tế để giải quyết tranh chấp.

Đến năm 2003, chính phủ hai nước Malaysia và Singapore đã đồng đệ đơn lên Tòa Công Lý Quốc Tế. Vào năm 2008, tòa đã tuyên phán chủ quyền của hòn đảo tranh chấp, Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, thuộc về Singapore và đá Middle Rocks thuộc về Malaysia. Còn bãi đá nằm dưới mặt nước biển khi thuỷ triều thấp (low-tide elevation), South Ledge, thì thuộc chủ quyền của quốc gia nào có lãnh hải ở đó.
  • Hồ sơ Myanmar – Bangladesh
Hai quốc gia Đông Nam Á khác cũng có tranh chấp với nhau về chủ quyền trên biển là Myanmar và Bangladesh.

Sau nhiều năm đàm phán song phương bất thành giữa hai quốc gia, hai chính phủ Myanmar và Bangladesh quyết định sử dụng các thủ tục pháp lý của Tòa Trọng tài Quốc Tế về Luật biển (International Tribunal for the Law of the Sea – gọi tắt là ITLOS) để giải quyết tranh chấp giữa họ. Hai quốc gia này đã yêu cầu Tòa ITLOS vẽ cho họ đường biên giới trên biển liên quan đến lãnh hải, khu vực kinh tế đặc quyền (EEZ) và thềm lục địa giữa hai nước. Vào năm 2012, Tòa ITLOS đã đưa ra phán quyết về vụ kiện và cả hai quốc gia đều chấp nhận các tuyên phán của tòa.

Đông Nam Á: gương “điển hình” của thế giới?

Thái độ tích cực của những quốc gia trong khối ASEAN (trong việc giải quyết các tranh chấp của họ) đã được các nước Nam Á chia sẻ và học tập. Tác giả có thể nêu ra một vài ví dụ như sau.

Như đã nói ở trên, Bangladesh đã giải quyết tranh chấp về chủ quyền trên biển với Myanmar qua thủ tục của Tòa ITLOS. Vào năm 2009, Bangladesh cũng đã tiến hành thủ tục sử dụng Tòa Trọng tài để giải quyết tranh chấp về ranh giới đường biển với Ấn Độ (India) dựa theo Công Ước Quốc Tế về Luật biển (UNCLOS), và Ấn Độ đã đồng ý. Vào năm ngoái, 2015, Tòa Trọng tài đã đưa ra phán quyết cho hồ sơ này và chính phủ của cả hai quốc gia đều đồng ý tuân thủ.

Còn giữa Ấn Độ và Pakistan lâu nay vốn có những quan hệ ngoại giao không được tốt đẹp lắm vì những quá khứ đầy chia cắt từ thời thuộc địa của Anh Quốc, đặc biệt là việc chia phần lại lãnh thổ 2 nước bởi chính quyền thuộc địa vào năm 1947.

Một trong những điểm bế tắc cho cuộc thương thảo giữa hai đất nước này là việc làm cách nào để có thể cùng nhau chia sẻ nguồn nước của sông Indus.

Dưới sự hướng dẫn của Ngân hàng Quốc Tế (World Bank), thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, ông Pandit Nehru, và Đại tướng Ayub Khan, tổng thống của Pakistan lúc ấy đã đồng ý ký kết một hiệp ước về sông Indus. Theo đó, chính phủ hai nước đồng ý sẽ sử dụng tòa trọng tài quốc tế để giải quyết tất cả các tranh chấp có liên quan đến con sông này khi không thể đàm phán được nữa.

Nehru_Ayub_indus_water_treaty_karachi_sept_16_1960

Buổi lễ ký kết Hiệp ước nước sông Indus.
Năm 2010, Pakistan đã đòi hỏi thực thi hiệp ước này khi xảy ra tranh chấp với Ấn Độ về các công trình thủy điện mà Ấn Độ đã xây dựng, và đã mở hồ sơ với Tòa Trọng tài. Đến năm 2013, Tòa Trọng tài đã đưa ra phát quyết rằng Ấn Độ có chủ quyền với sông Kishenganga và do đó cũng có cả thẩm quyền điều chỉnh dòng chảy của con sông này. Chính vì thế Ấn Độ có nghĩa vụ phải tuân thủ việc tạo ra một lượng nước tối thiểu đổ vào nó.

Những ví dụ kể trên, về những phương pháp giải quyết đa dạng để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia, cho phép chúng ta nhìn nhận rằng người dân châu Á, đặc biệt là ở các nước trong vùng Đông Nam Á và Nam Á, đã xem các thủ tục của các tòa trọng tài và tòa án quốc tế là những phương pháp khả thi để giải quyết vấn đề. Năm quốc gia Á Đông, bao gồm Cambodia, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines và Đông Timor, đã chấp nhận quyền tài phán bắt buộc (compulsory jurisdiction) của Tòa Công Lý Quốc Tế (ICJ). Hầu hết tất cả các quốc gia ở Châu Á là thành viên của UNCLOS.

Tuy thế, có một số người Châu Á, đặc biệt là những người sống trong khu vực Đông Bắc Á, thì ngược lại. Họ có vẻ ngần ngại trong việc sử dụng các chế tài pháp lý quốc tế, như tòa trọng tài, để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền giữa các nước. Điều khiến cho những người ấy không hài lòng khi sử dụng các thủ tục pháp lý này chính là việc các kết quả của những vụ kiện dựa theo các phương pháp như tòa trọng tài quốc tế thông thường là một bản án theo kiểu một ăn hai thua, nếu thua là thua trắng tay.

Vì lý do đó, tác giả thiết nghĩ nên đề nghị thêm một số phương pháp hầu tìm ra những cách giải quyết khác về những tranh chấp giữa các quốc gia. Trong đó có thể kể đến: 1)tìm hiểu tình tiết vụ kiện (fact-finding), 2) điều đình (mediation), 3) hòa giải (conciliation), và 4) đồng phát triển (joint development).
  • Tìm hiểu tình tiết vụ kiện
Trong một số hồ sơ, sự tranh chấp giữa hai quốc gia thường xuyên xoay quanh những vấn đề liên quan đến tình tiết của vụ việc (facts) chứ không hẳn là vấn đề về luật pháp (law). Hồ sơ về vụ kiện Cải tạo và Lấn đất (Land Reclamation) giữa Malaysia và Singapore là một ví dụ cho điều này.

Theo hồ sơ của vụ kiện, Malaysia cáo buộc những hoạt động cải tạo đất của Singapore đã xâm phạm vào lãnh thổ của Malaysia, gây ra những thiệt hại về môi trường biển cũng như ảnh hưởng bất lợi cho việc sinh kế của những ngư dân Malaysia.

Sau khi tiến hành thủ tục kiện Singapore lên Tòa ITLOS, Malaysia lại tiến hành nộp đơn đòi hỏi thêm một số biện pháp lâm thời đối với Singapore. Trong phán quyết năm 2003, tòa ITLOS đã từ chối yêu cầu đó của Malaysia. Ngược lại, tòa ITLOS đã bắt buộc chính phủ hai nước phải nhanh chóng thành lập một nhóm chuyên gia độc lập gồm 4 người để tìm hiểu hồ sơ sự việc.

Sau một năm nghiên cứu, 4 vị chuyên gia độc lập đã nộp lên một bản báo cáo đồng thuận gửi đến tòa và phần lớn đã “giải oan” cho Singapore. Bản báo cáo đã được chính phủ 2 nước chấp nhận cũng như cả hai đều đã thương thảo và đạt được một thoả thuận êm đẹp cho vụ tranh chấp dựa trên những chi tiết về vụ việc mà báo cáo đã đưa ra.
  • Điều đình
Điều đình (mediation) là một hình thức giải quyết vấn đề theo nguyên tắc tự nguyện và kết quả thường là một phương pháp có lợi cho cả đôi bên (win-win outcome).

Một ví dụ cho một cuộc điều đình thành công là hồ sơ hòa giải vụ tranh chấp dai dẳng giữa chính phủ Indonesia và Phong Trào Đòi Tự Do cho ACEH (Free ACEH Movement).

Ngay sau khi cơn sóng thần tàn phá vùng biển Ấn Độ Dương (Indian Ocean) xảy ra vào năm 2004, cả hai phía của vụ tranh chấp này đã tiếp xúc với cựu tổng thống của Phần Lan (Finland), ông Martti Ahtisaari, để yêu cầu ông đứng ra làm người điều phối cho vụ điều đình giữa họ. Và với một biểu hiện xứng đáng được nhận giải Nobel Hòa Bình, ông Ahtisaari đã thành công trong việc thành lập một hòa ước cho vụ tranh chấp này vào năm 2005.
  • Hòa Giải
Hòa giải cũng là một phương pháp giải quyết tranh chấp một cách tự nguyện dựa trên nguyên tắc cả hai cùng có lợi.

3 người bạn tốt của tác giả, ông Hans Anderson người Iceland, ông Jens Evensen người Norway (Na Uy) và ông Elliot Richard người Mỹ, là thành viên của một ủy ban liên minh giữa Iceland và Na Uy được thành lập để giải quyết tranh chấp giữa hai quốc gia về thềm lục địa.

Ông Richardson đã được cả hai nước Iceland và Na Uy bổ nhiệm làm chủ tịch nhằm đảm bảo tính công bằng cho ủy ban này. Kết quả là ủy ban liên minh giữa hai quốc gia đã đề xuất một giải pháp khả thi cho tranh chấp và đã được các bên liên quan chấp nhận.
  • Đồng phát triển
Nhiều năm trước, nhà lãnh đạo của Trung Quốc, Deng Xiaoping (Đặng Tiểu Bình), đã đề nghị các nước hãy gác bỏ những đòi hỏi về pháp lý qua một bên và tập trung vào việc hợp tác để cùng khai thác tài nguyên trong những lãnh thổ có tranh chấp và chia sẻ chúng.

Trên thực tế, những kế hoạch đồng phát triển đã được các nước sử dụng để giải quyết tranh chấp, mà điển hình là ví dụ của Malaysia và Thailand (Thái Lan) khi hai nước đã hợp tác để khai thác khoán sản dầu khí trong khu vực thềm lục địa ở Vịnh Thái Lan (Gulf of Thailand) và chia sẻ lợi ích. Kế hoạch đồng phát triển này đã xúc tiến vào năm 1979 và được cho là thành công rực rỡ.

Cách giải quyết theo kiểu Châu Á

Để kết luận cho bài viết của mình, tác giả muốn nhấn mạnh 3 điểm.

Đầu tiên, người dân Châu Á mong muốn châu lục của mình được sống trong hòa bình, phát triển, và ổn định. Họ cũng mong muốn có được một xã hội pháp trị mạnh mẽ và tất cả các tranh chấp giữa các quốc gia được giải quyết trong êm đẹp và đúng theo luật pháp chứ không phải dựa trên những thứ mù mờ nhưng lại hay được xem có vẻ như là đúng.

Thứ hai, ngoại trừ Trung Quốc, các quốc gia Châu Á khác cũng như các công dân của họ không hề có những thái độ tiêu cực đối với việc sử dụng các thủ tục pháp lý hay các tòa trọng tài, tòa án quốc tế để giải quyết tranh chấp giữa họ với các nước khác.

Thứ ba và cuối cùng, ngoài thủ tục của các tòa trọng tài và tòa án quốc tế, chúng ta cần phải tìm kiếm và sử dụng các phương pháp tự nguyện và có lợi cho tất cả các bên (win-win) trong việc đưa ra giải pháp cho những tranh chấp, chẳng hạn như các nghiên cứu tìm hiểu tình tiết của hồ sơ, các phiên điều đình, hoà giải, và cả các kế hoạch đồng phát triển.

Từ trước đến nay, các quốc gia ở Châu Á vốn vẫn giải quyết những tranh chấp giữa họ bằng những thủ tục pháp lý quốc tế. Bây giờ là lúc Trung Quốc cũng phải noi gương theo họ và nên bắt đầu chấp nhận một số phương pháp tự nguyện như tham gia vào các cuộc điều đình để giải quyết tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực./.
Đọc thêm

Quyết chiến! Quyết chiến! Quyết chiến! 



Toàn dân! Nghe chăng? Sơn hà nguy biến!
Hận thù đằng đằng! Biên thùy rung chuyển
Tuông giày non sông rền vang tiếng vó câu
Gây oán nghìn thu
Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!
Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến?
Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân
Hỡi đâu tứ dân!

Kìa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi
ôi Thăng Long! Khói kinh kỳ phơi phới
Loa vang vang, chiếu ban truyền bốn hương
Theo gió bay khắp miền sông núi réo đời.

Lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương
Giống anh hùng nâng cao chí lớn
Giống anh hùng đua sức tráng cường.
Ta lên đường lòng mang tâu đến long nhan
Giòng Lạc Hồng xin thề liều thân liều thân!

Đường còn dài
Hờn vương trên quan tái
Xa xa trông áng mây đầu non đoài

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà
Đoạt thành trì toan xéo giày lăng miếu
Nhìn bao quân Thoát lấn xâm tràn nước ta
ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
(Đáp) Quyết Chiến!

(Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
(Đáp) Quyết Chiến!

Quyết chiến luôn
Cứu nước nhà
Nối chí dân hùng anh

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
(Đáp) Hy Sinh!

(Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
(Đáp) Hy Sinh!

Thề liều thân cho sông núi

Muôn Năm Lừng Uy!

Bước chân đến ấp Láng Cháo, xã Dân Thành, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, người ta không nghĩ đây là Việt Nam vì những bảng hiệu tiếng Trung Quốc trước những quán ăn, cửa hàng tạp hóa, massage...

 
Nhiều bảng hiệu có tiếng Trung Quốc to, nổi bật, bên dưới là những hàng chữ tiếng Việt nhỏ. Quán nhậu, tiệm hớt tóc, massage, cửa hàng tạp hóa đều... ưu tiên ngôn ngữ Trung Quốc.

Buổi chiều tà, hết giờ làm việc, công nhân từ nhà máy nhiệt điện túa ra. Tiếng "xì xồ" bằng ngôn ngữ Trung Quốc, Việt Nam xen lẫn nhau, làm con đường nhỏ trở nên náo nhiệt. Những chiếc xe chở hàng quá tải trọng vẫn còn ra vào nhà máy, chạy ầm ầm, khói bụi mịt mù. 

Các quán nhậu bắt đầu tấp nập. Từng tốp công nhân Trung Quốc í ới rủ nhau vào quán "làm vài ve" trước khi trở về khu nhà nghỉ. Các tiệm hớt tóc, massage bắt đầu chuẩn bị đón khách....

xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Ngôn ngữ Trung Quốc được ưu tiên tại "xóm Trung Quốc".
Chàng trai trẻ Đỗ Xuân Dũng, chủ quán nhậu tiết canh vịt cho biết: "Người Trung Quốc chỉ uống khoảng 2 chai bia là nghỉ. Họ có thói quen đi nhậu chừng 2 người, nhiều nhất là 4 người. Không như công nhân Việt Nam, đi từng top từ 5 người trở lên và uống đến say quắc".

Trước đây Xuân Dũng cũng là kỹ sư kiểm tra độ nhún cọc công trình ở nhà máy nhiệt điện. Dũng chán cảnh đi làm thuê, bỏ ra ngoài thuê mặt bằng, mở quán tiết canh vịt. Chàng trai trẻ gốc Biên Hòa này đang cố gắng bám trụ, làm giàu ở vùng đất ven biển miền Tây.

Từ ngày có nhà máy nhiệt điện do người Trung Quốc xây dựng, dân tứ xứ đổ về Láng Cháo, biến vùng đất hẻo lánh này không còn yên tĩnh. Lần đầu tiên có những tiệm massage, hớt tóc máy lạnh xuất hiện ở vùng đất ven biển hẻo lánh này. Người Việt tranh thủ mở nhiều hàng quán, treo bảng hiệu tiếng Trung Quốc, chủ yếu phục vụ cho các "thượng đế mắt một mí". 

xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Một góc "xóm Trung Quốc" trước nhà máy nhiệt điện tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Lai rai rượu đế ở một quán nhậu, phóng viên nghe kể chuyện công nhân Trung Quốc gây gổ với người dân tại chỗ. Mới đây nhất là một tốp người Trung Quốc đánh nhau với người Việt trong một vụ quẹt xe, họ liều lĩnh định đốt xe người Việt, may mắn công an đến can thiệp kịp thời. Những cuộc tình giữa thanh niên Trung Quốc và gái Việt Nam đẫm nước mắt. Chuyện những công nhân làm việc trên cao trong nhà máy nhiệt điện chẳng may bị phóng điện hoặc trời mưa trơn trợt, bị té ngã xuống đất chết tức tưởi, được mang xác đi âm thầm, không ai biết. Chuyện dân miền biển rủ nhau góp tiền chơi hụi, bị giật tiền tỷ...


xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Buổi chiều tà, "xóm Trung Quốc" trở nên nhộn nhịp. Thỉnh thoảng có những chiếc xe chở quá tải gầm gừ, khói bụi mịt mù con đường nhỏ.
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Nhà máy nhiệt điện giờ tan tầm.
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Buổi chiều tà, người đàn ông này bồng con ra đón khách Trung Quốc đến mua hàng tạp hóa.
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Những bảng hiệu bằng chữ Trung Quốc nhan nhản trước nhà máy nhiệt điện.
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Kỹ sư, công nhân Trung Quốc kết thúc một ngày làm việc, đạp xe về nhà.
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Những hàng quán treo bảng hiệu chữ Trung Quốc chào đón những "thượng đế mắt một mí".
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Bảng hiệu của một công ty viết bằng hai ngôn ngữ Việt Nam-Trung Quốc.
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
Tiệm hớt tóc thanh lịch "Hồng Song Hỷ" toàn chữ Trung Quốc.
xóm Trung Quốc, Trà Vinh, nhà máy nhiệt điện, Trung Quốc, chữ Trung Quốc, lao động Trung Quốc,
 Một góc "phố" ẩm thực ở "xóm Trung Quốc".
(Theo Motthegioi)


Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/293711/xom-trung-quoc-o-tra-vinh.html


Cuối tuần rồi, vậy là sau 7 năm quen nhau, em cũng đã về với anh. Chúng ta sẽ cùng ghi nhớ ngày này nhé: 30/7/2016. Nhưng cũng là lần đầu tiên em dọn nhà, mà anh lại không ở bên cạnh phụ giúp em… Anh phải học, em cũng hiểu chuyện đó nên chẳng cằn nhằn gì anh cả. Đến chiều khi chuẩn bị về, anh gọi và em chỉ bảo rằng mình đang đói lắm…

Chúng ta bắt đầu cuộc sống mới rồi, cuộc sống của riêng chúng ta. Và xung quanh vẫn còn lắm bao nhiêu buồn vui mà mình sẽ cùng nhau phải vượt qua. Anh nhớ hoài những câu nói của em và về em: “Có một người để dựa vào lúc khó khăn chắc là vui lắm nhỉ”, “Nếu sợ khổ thì em đâu có yêu anh” và Cha bảo “Cha thương Tâm nhiều nhất vì Tâm là đứa phải chịu nhiều khổ cực nhất trong nhà”…

Anh tệ lắm. Rất tệ nữa kìa. Nhưng anh biết, vì em, anh đã luôn bắt mình phải cố gắng để thay đổi. Không phải chỉ vì em, mà là vì chúng ta, vì gia đình chúng ta.

… Hai ngày cuối tuần mà có nhiều cảm xúc qua em nhỉ!

Tối thứ bảy thì xem bảng điểm, biết mình đủ điệm vượt qua học phần đầu tiên của môn thi đầu tiên mà như muốn rụng rời cả tay chân, cảm xúc chẳng gì diễn tả nỗi khi “đầu đã xuôi”. Nhưng còn những bạn bè thi rớt, có người trẻ, có người nhiệt huyết, có người vượt đường xa xôi đi học… thật khó diễn tả cảm xúc và chia sẻ cùng họ. Nhưng dù sao, anh cũng đã ôm em, ôm em trong niềm vui sướng và hạnh phúc.

Nhưng đến sáng Chúa Nhật, anh đọc được dòng trạng thái “đầu hàng” của người bạn thân thiết của mình sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư. Anh lại một lần nữa chẳng diễn tả nổi cảm xúc của mình, anh đi ngay đến chỗ em và nói rằng người bạn đó đã đầu hàng số phận. Anh cố kiềm nén để mình đường bật khóc. Nhưng rồi anh lại ôm em và khóc, anh ôm em trong nỗi buồn và tuyệt vọng cho cuộc sống nơi người bạn kiên cường của mình…

Cuộc sống này sẽ còn lắm buồn vui, chẳng phải lúc nào cũng màu hồng và cũng không phải lúc nào cũng màu đen. Anh chỉ ước mong và cố gắng để mình sẽ biết phải sống tốt với em, để mỉnh cũng ở bên cạnh nhau trong những buồn vui của cuộc sống này…

--- Kỷ niệm tuần đầu tiên, tháng đầu tiên bước vào cuộc sống của Anh & Em ---


Khi chiếc xe máy lăn bánh – hay nói chính xác là ít phút trước khi bánh xe lăn, cảm xúc trong lòng tôi như… tụt hết cả. Trong suy nghĩ chẳng biết đang tồn tại cái gì đó để được gọi là cảm xúc hay chăng. Vui hay buồn, tiếc nuối hay không, quyến luyến hay chẳng… tôi chẳng biết. Tôi gặp từng người có mặt hôm đó đang ngồi ở vị trí quen thuộc mà gần tuần qua tôi đã cùng ở đấy với họ. Tôi bắt tay và chào tạm biệt, với nụ cười và cách nói của họ. Rồi ra sau, tôi chào cha mẹ và các em. Xe chạy và lúc này, tôi biết, cảm xúc gì đang ở trong tôi… Tôi cố kìm nén để những giọt nước mắt đã dâng tới khóe mi đừng rơi xuống khi phải rời xa những người thân thương mới quen…

Lần đầu tiên tối đến với mảnh đất này, mảnh đất của những câu từ: nắng cháy, khúc ruột, đau thương hay cằn cỗi. Thú thật, tôi đã tưởng tượng nhiều để nghĩ xem cái nắng nóng của vùng đất này là ra sao, nhưng cho đến lúc thực sự cảm nhận nó, nó vẫn khác quá xa so với những gì tôi đã hình dung.

Những người dân quê chân lấm tay bùn, những khuôn mặt khắc khổ của nếp nhăn và những mảnh đời đã bao nhiêu lần trằn trọc hai chữ tha hương, xa xứ giờ đây đang hiện hữu xung quanh tôi. Nhưng tất cả lại ghép nên ấm áp hai chữ tình thân!

Bất giác, tôi cảm thấy mình thật gần với họ, với cuộc sống này và những số phận này.

Sống cùng nhau trong gần 1 tuần đó, tôi cảm nhận được gì ngoài tình làng nghĩa xóm, ngoài tình quê mà tuổi thơ tôi cũng đã trải qua? Không, đó chính là tất cả rồi. Có thêm nữa, là cảm nhận sâu sắc hơn của những cuộc đời, của những vĩ đại sau lũy tre làng, của những giọt nước mắt mẹ cha, anh em thật sự mang ý nghĩa của những từ ngữ gần gũi trong thực tế của họ nhưng xa lạ trong cuộc sống của tôi: nghèo, khổ và hy vọng.

Đến với cuộc sống của vùng quê này, có phải chăng tôi được tận mắt nhìn lại cuốn phim quay chậm về cuộc sống khốn khổ của quê tôi, cha mẹ tôi, ông bà tôi, cô bác chú dì tôi những ngày xa xưa ấy. Câu hát “đàn trẻ thơ ngây chờ mong áo mới” như tái diễn trước mắt tôi đây. Chinh chiến đã hết rồi, khói lửa quê hương đã lùi sâu dĩ vãng rồi, nhưng sao còn khốn khó thế này, vùng đất đầu của khát vọng thống nhất đất nước???

Tôi nghe và nghe rất nhiều về những gì thế hệ sau 1975 được kể. Một miền Bắc thống khổ quyết tâm phải giải phóng một miền Nam phồn hoa. Vì sao, lý do và tại sao sự thống khổ đó có thể chiến thắng sự phồn hoa đó. Tôi đã hiểu được lý do.

Là vì nơi đây, nơi mảnh đất miền Trung cằn cỗi này, là tiêu biểu cho những thế hệ con người bất khuất, oai hùng mang trong mình dòng máu Việt Nam không bao giờ đầu hàng lũ ngoại xâm. Đây là vùng đất của những Đặng Tất nuôi chí phục quốc, lấy lại giang sơn; của Đặng Dung mài đao dưới trăng viết khúc bi hùng thời trai trẻ; của Nguyễn Công Trứ trả nợ tang bồng, mang chí làm trai thỏa sức nam bắc đông tây; của Nguyễn Du thi hào khắc cho hậu thế chữ Tâm bằng “cha” chữ Tài… Và của những người lính trẻ với vốc cơm độn, dép cao su, balo con cóc, mũ cối và điếu cày đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước với tất cả ước mơ của dòng máu Việt Nam.

Ý nghĩa chính trị là cuộc đấu trí của những người lãnh đạo và thật sự tầm vóc đó quá sâu xa để những hậu sinh như tôi hiểu được đầy đủ vì sao và tại sao! Nhưng cuộc sống thường ngày của 40 năm sau ngày thống nhất vẫn xoay quanh hai chữ cơ cực và một ý niệm vào Nam đã cho tôi hiểu những điều ngoài ý nghĩa đó.

Khát vọng của người Việt từ vùng đất Phú Thọ Hùng Vương là khát vọng hòa bình, độc lập và thống nhất. Không có ý niệm nào, ước ao nào, mong muốn nào to lớn cho bằng ước mơ hòa bình, độc lập và thống nhất trong lòng mỗi người Việt Nam. Và chỉ có trong nghèo khó, gian nan và khốn khổ, khát vọng đó mới có đủ sức được nuôi dưỡng, lớn lên và trở thành sức mạnh, cơn bão tố quét sạch những phù phiếm, xa hoa của thế giới này.

Người ta và những người được gọi là học giả từ hai bờ chiến tuyến, sẽ có đủ lý do để nói về những gì họ đã trải qua và cảm nhận. Nhưng với tôi, lý do của ngày thống nhất năm 1975 chỉ có thể là vì khao khát thống nhất đất nước này, dân tộc này vẫn lớn hơn tất cả những thứ khác nơi từng người lính của miền quê nghèo đất cày lên sỏi đá. Vì khát khao đó đã khắc sâu vào trong tim họ hơn bất cứ điều gì khác. Bên nào có khát khao thống nhất lớn hơn thì bên đó thực sự là bên chiến thắng.

Người ta cứ mãi tranh cãi với nhau cho đến tận hôm nay về đủ thứ lý thuyết “chính chị, chính em” gì của họ. Nhưng liệu đã có ai cảm ơn những người lính của hai bờ chiến tuyến từng chiến đấu cho suy nghĩ của họ. Và những người mà hôm nay bước chân họ có thể tự do đi từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam – họ đã có lời cảm ơn chân thành đến cho những mảnh đời lính cơ cực của vùng đất này – vùng đất mà đến giờ còn nghèo, còn khổ, còn đau thương như thế thì hơn nửa thế kỷ trước họ còn đã phải sống ra sao?

Cảm ơn!

Xin kính dâng hai từ Cảm ơn chân thành đến những người lính – và nhất là những người lính nghèo mà tôi đã may mắn được sống cùng, vì khát vọng thống nhất đất nước trong lòng họ - những người lính của hai bờ chiến tuyến, đã cho tôi và và con cháu tôi một Việt Nam xinh đẹp như hôm nay.

Cuộc sống này có thể đã bất công với họ, con người có thể tàn nhẫn với họ. Nhưng tôi tin rằng rồi công bằng sẽ dành cho họ những gì họ xứng đáng được hưởng lấy. Và tôi tin mạnh mẽ như thế, vì đang chảy trong tôi, trong chúng ta và cả con cháu tôi là dòng máu của Dân tộc mà Dân tộc ấy đã từng hơn 1.000 năm bị bắt làm nô lệ nhưng rồi vẫn kiên cường phục quốc và hào hùng, bất khuất đến hôm nay, đến mai sau!

Cảm ơn!

Cảm ơn vùng đất nghèo, cảm ơn lũy tre làng đã âm thầm và kiên quyết, hiền hòa và mạnh mẽ giữ cho linh hồn Việt Nam mãi luôn bất từ và trường tồn vĩnh cữu từ xưa đến nay, cùng mãi mãi đến ngàn năm sau.

Cảm ơn! Xỉn cảm ơn!

--- Một ngày trước ngày 27/7 ---

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.