Articles by "YSV"

Hiển thị các bài đăng có nhãn YSV. Hiển thị tất cả bài đăng


"Gia Định thất thủ vịnh" không rõ tên tác giả, chỉ biết ra đời trong hoàn cảnh xót thương khi người Pháp đã đánh chiếm xong thành Gia Định năm 1859. Trương Vĩnh Ký là người sớm nhất đã sưu tầm bài vịnh này, nhưng lúc đó chỉ được 7 câu 14 dòng. Mãi về sau, Thái Bạch mới sưu tầm đầy đủ và cho in trong "Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp".

Bài vịnh là nỗi lòng của nhà Nho trước thời cuộc đất nước thất thủ về tay người Pháp. Nỗi mong mỏi, đợi chờ những hình ảnh Thành Thang, Võ Vương như mong chờ vị cứu tinh đã không xảy đến và để "con đỏ chốn chông gai". 

Học giả Trương Vĩnh ký đã viết lời giới thiệu trong quyển chuyên khảo của mình về bài vịnh như sau:
Vịnh này ai làm ra thì không có biết rõ, mà văn làm hay, đối đáp cân xứng. Xem hãy còn dài nữa, mà thấy bổn chép có bấy nhiêu, thì ta cũng chép lại bấy nhiêu. Bấy nhiêu cũng đủ hiểu ý tứ và chí khí của kẻ làm. Chính ý là tiếc đất cũ của mình nay đã về tay giặc; đổ cho đạo tuần hườn trời đất đổi dời khiến cho giặc mạnh. Khí giới giỏi, cơ xảo đến đánh mà lấy đi.
P.J.B. Trương Vĩnh Ký.

Đọc lại bài vịnh, chúng ta nhìn thấy lại một trang lịch sử đau thương của dân tộc và đau đớn hơn khi trập tràn trong đó những điển tích, điển cố Trung Hoa được viện dẫn. Sự tất yếu thất bại của vương triều Nguyễn từ thời Minh Mệnh đã xảy đến khi chỉ rập khuôn theo phong kiến Trung Hoa mà quên mất tinh thần dân tộc của những khai quốc công thần triều Nguyễn như Lê Văn Duyệt, Lê Chất và đặc biệt là Thế tổ Gia Long.

Dưới đây là đầy đủ bài vịnh:

Gia Định thất thủ vịnh
1. Thương thay đất Gia Định! Tiếc thay đất Gia Định!
Vực thẳm nên cồn, đất bằng nổi sóng.
2. Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt bến Trâu
Dây thép giăng chớp nhoáng đất ngàn trùng, ngã xiêu thành Phụng.
3. Bờ cõi phân chia khác mặt, trông ra như quáng như mù.
Giang sơn dời đổi lạ mày, tưởng tới dường mê dường tỉnh.
4. Lớp cũ tàn, lớp mới mọc, ngổn ngang xe ngựa đất gò bằng.
Dấu trước lấp, dấu sau bồi, tan nát cửa nhà trời dậy sấm.
5. Inh ỏi súng rền kinh cửa Bắc, hãi hùng trăm họ dứt câu ca
Tò le kèn thổi trời Nam, mờ mịt năm canh không tiếng trống.
6. Hào kiệt tìm phương lánh mặt, sa cơ gió hạc lúc hư kinh
Anh hùng kiếm chốn ẩn thân, sút thế nước cờ cơn lúng túng.
7. Từ Bến Thành trải qua chợ Sỏi loài tanh hôi lang lệ biết bao nhiêu.
Nơi sắp tới Cầu Kho, quân mọi rợ lẫy lừng nên quá lắm.
8. Cầu Thị Nghè cùng nơi Chợ Quán chúa đắc ý vểnh râu.
Chùa Cẩm Đệm trải đến Cây Mai, chịu nghèo ôm bụng.
9. Nơi nơi nổi xóm đạo nhà thờ.
Chốn chốn lập chùa thiêng miếu thánh
10. Dọc dọc ngang ngang mấy lớp, thảy đều chúng nó lâu đài.
Văn văn võ võ hai bên, nào thấy quan ta võng lọng.
11. Ngậm ngùi thay ba bốn lân Gò Vấp, cây cỏ khô thân thế cũng khô.
Bát ngát nhẽ Mười tám thôn Vườn Trầu, hoa trái rụng, người đời cũng rụng.
12. Mấy dặm Gò Đen - Rạch Kiến, ngọn lửa thiêu sự nghiệp sạch không.
Đòi nơi Rạch Lá - Gò Công trận gió quét cửa nhà trống rỗng.
13. Tiếng kêu oan, oan này vì nước, hồn nghĩa dân biết dựa vào đâu?
Thân liều thác, thác cũng vì vua, xương nghĩa sĩ chất đà đầy đống.
14. Sông núi đào, mồ xiêu mả lạc, thương thay kẻ thác chẳng an hồn.
Đường sá đắp, cửa nát nhà tan, cực bấy người còn khôn nỗi sống.
15. Sau trước vầy đàng tả đạo, dân ta đòi bữa đòi suy.
Đêm ngày ỏi tiếng Lang Sa, thế nó càng ngày càng lộng.
16. Cờ sao không thấy phất, bỏ liều con đỏ chốn chông gai.
Áo Võ Vương sao chẳng thấy cài, nỡ để dân đen trong bùn lấm.
17. Đầu Trung nguyên tóc hãy còn dài, công này nhờ Chu Bá, học Xuân Thu xin chớ biếm Hoàn Công.
Tay tả nhậm áo kia khỏi mặc, việc ấy bởi vì ai, học Luận ngữ cớ sao chê Quản Trọng.
18. Bóng xế dặm ngàn trong man mác, nước non này ai thấy chẳng buồn.
Trời chiều chim chóc nhảy lăng xăng, tình cảnh ấy lòng nào chẳng động?
19. Nay ta nhân cảm việc đời,
Vậy mới tả một bài ngâm vịnh:
Dắng dỏi lầu Tây tiếng địch xoang,
Đoái trông thấp thoáng bóng dương tàn.
Giang sơn tám cõi êm tì báo
Thế giới ba ngàn nổi sói lang.
Áy náy người lo ơn cúc dục,
Bâng khuâng kẻ tưởng nghĩa quân vương.
Ai về bến bắc thăm người Võ,
Hỏi cán cờ mao trải mấy sương?


Lời giới thiệu
 
Trương Vĩnh Ký hay Petrus Ký (1837-1898) là một học giả uyên bác trên nhiều lĩnh vực từ ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, từ điển đến văn học, nghệ thuật, văn hóa... Ông sớm theo đạo Thiên Chúa và được đào tạo tại nhiều chủng viện, từ tiểu chủng viện Cái Nhum (Nam Kỳ) đến chủng viện Pinhalu (Campuchia) rồi đại chủng viện Poulo-Penang (Malaysia). Ông rất thông minh và có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ, thông thạo nhiều ngôn ngữ từ Hán, Nôm đến tiếng Latin, Pháp, Anh, Hy Lạp, Ấn, Nhật, cả tiếng Khmer, Thái, Lào. Ông để lại một di sản đồ sộ với khoảng gần 100 tác phẩm sách, báo, luận văn, bao gồm những khảo cứu về lịch sử, địa lý, ngôn ngữ đến bút ký, sáng tác thơ văn, dịch sách Hán, phiên âm truyện Nôm, từ điển. Ngoài ra, ông còn để lại nhiều thư bằng tiếng Pháp, tiếng Latin và quốc ngữ giao thiệp với các nhân vật đương thời và một số di cảo, tư liệu chưa ai có thể thống kê đầy đủ. 

Trước khi làm giám đốc trường Thông ngôn, Trương Vĩnh Ký còn làm chủ bút Gia Định báo. Trên phương diện quốc tế, ông đã từng là thành viên Hội Nhân đạo và Khoa học miền Đông Nam nước Pháp, thành viên thông tấn trường Đông phương Ngữ học, hội viên Hội Á châu. Ông còn được ghi nhận là một trong 18 học giả hàng đầu quốc tế (1873-1874). 

Ngoài công việc giảng dạy, biên phiên dịch và viết lách, Trương Vĩnh Ký có thời gian tham gia vào các hoạt động chính trị khác như tham gia Hội đồng thường trực nghiên cứu tổ chức lại nền giáo dục Nam Kỳ, Hội đồng thị xã Sài Gòn, được cử vào Viện Cơ mật của Nam triều, làm Giám quan cố vấn cho Đồng Khánh. Chính từ những hoạt động này mà trong giới nghiên cứu đã từng có những nghi vấn, phê phán gay gắt. 

Học giả Nguyễn Đình Đầu là người đã dày công nghiên cứu về Petrus Ký, đã thu thập được nhiều tư liệu về Trương Vĩnh Ký trong Thư viện Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études indochinoises), Trung tâm lưu trữ Hội Thừa sai Paris (Société des Missions étrangères de Paris) và đã dịch, chú thích, xuất bản một số tác phẩm của Trương Vĩnh Ký. 

Trên cơ sở chuẩn bị nhiều năm, học giả Nguyễn Đình Đầu đã hoàn thành một công trình như một hồ sơ Trương Vĩnh Ký mang tên Petrus Ký - Nỗi oan thế kỷ. 
 
Trong công trình biên khảo này, trong chương một, tác giả viết về thân thế và sự nghiệp Trương Vĩnh Ký, trình bày một cách hệ thống cuộc đời và hành trạng của Trương Vĩnh Ký cùng những sáng tác của ông. Tác giả lập danh mục các tác phẩm và niên biểu Trương Vĩnh Ký; viết lại các hoạt động và thái độ hành xử của Trương Vĩnh Ký trong từng bối cảnh lịch sử cụ thể để người đọc tự rút ra các nhận xét, bình luận. Theo đó, cuối đời, Trương Vĩnh Ký cũng tự thấy những mâu thuẫn trong cuộc sống của mình khiến hậu thế khó hiểu khi căn dặn chôn mình trong một nhà mồ đơn sơ với dòng chữ Latin “Sic vos non vobis” (Ở với họ mà không theo họ) và đôi câu đối bằng chữ Hán: “Lưu bì văn dự dị thiên địa - Ủy thế linh thần tại tử tôn” (Tiếng thơm ngưng đọng trong trời đất - Ý chí lưu truyền tại cháu con). Tác giả Nguyễn Đình Đầu không tranh luận về sự đánh giá công và tội của Trương Vĩnh Ký mà chỉ tỏ ra thông cảm với những uẩn khúc khó xử của Trương Vĩnh Ký và muốn chiêu tuyết cho ông. 

Một nội dung quan trọng của cuốn sách dành cho một số trước tác của Trương Vĩnh Ký trong chương hai và ba. Đó là một số sách, báo, bài viết chọn lọc và một số thư từ trao đổi của Trương Vĩnh Ký với nhà cầm quyền Pháp, với vua Đồng Khánh, và với các nhân sĩ trí thức đương thời. 

Nội dung chủ yếu của cuốn sách là những bài khen tặng Trương Vĩnh Ký lúc sinh thời và những bài khảo cứu, phê bình Trương Vĩnh Ký từ khi ông qua đời cho đến ngày nay. Đó là các chương từ chương bốn đến chương bảy qua các giai đoạn khi Trương Vĩnh Ký còn sống (chương bốn), từ khi qua đời đến năm 1945 (chương năm), từ năm 1945 đến 1975 (chương sáu) và từ khi Việt Nam thống nhất năm 1975 đến nay (chương bảy). Qua từng giai đoạn này, người đọc sẽ thấy, trải qua hơn một trăm năm với nhiều thăng trầm của lịch sử, lúc nào Trương Vĩnh Ký được tôn vinh và lúc nào bị phê phán. Trong lịch sử Việt Nam, việc bình luận, đánh giá không ít nhân vật lịch sử thường bị chi phối bởi bối cảnh lịch sử như vậy. Nhưng xu hướng chung vẫn là sự thắng thế của kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc, khách quan và thái độ công minh trước lịch sử. Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của khen - chê, tôn vinh - phê phán, nhưng cuối cùng xu thế khách quan, trung thực vẫn chi phối. Những hội thảo và bài nghiên cứu về Petrus Ký gần đây đánh giá cao những cống hiến văn hóa, những di sản ông để lại, đồng thời bày tỏ sự cảm thông với những uẩn khúc trong thời gian cộng tác với Pháp, coi ông là một học giả uyên bác, một nhà bác học. 

Cuốn sách của học giả Nguyễn Đình Đầu không chỉ là một công trình khảo cứu về Trương Vĩnh Ký mà còn là một công trình tổng hợp bao gồm các trước tác tuyển chọn của Trương Vĩnh Ký và hệ thống theo thời gian các sách, báo nghiên cứu, phê bình Trương Vĩnh Ký kể cả khen và chê. Trong sách, tác giả còn sưu tập và công bố một số tư liệu mới về Trương Vĩnh Ký, đóng góp thêm cơ sở tư liệu về nhân vật lịch sử này.
Tôi đánh giá cao công lao sưu tầm, biên soạn công phu với thái độ khách quan, trung thực của học giả Nguyễn Đình Đầu. Tôi coi đây là một công trình tổng hợp có giá trị về Trương Vĩnh Ký, cung cấp một hệ thống tư liệu khá đầy đủ và khách quan với nhiều góc nhìn khác nhau, cho tất cả các nhà khoa học trên mọi lĩnh vực muốn nghiên cứu sâu về nhà bác học Trương Vĩnh Ký. 

Hà Nội, ngày 5 tháng 7 năm 2016
Giáo sư Sử học Phan Huy Lê


Chu Văn An (1292–1370), tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, là một nhà giáo, thầy thuốc, đại quan nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, được phong tước Văn Trinh Công nên đời sau quen gọi là Chu Văn An.

Ông người Hà Nội, đương thời đã đổ Thái học sinh, nổi tiếng người ngay thẳng, chính trực. Đời Dụ Tông, ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng Hoàng (Hải Dương), lấy hiệu là Tiều ẩn, dạy học, viết sách cho tới khi mất.

Học trò Ông nổi tiếng có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát – đều đỗ Thái học sinh và là danh sĩ đương thời được nhân dân kính trọng. Vậy mà khi đến thăm, được Ông cho gặp, quỳ lạy dưới giường, nhắc nhở vài điều trước lúc đi xa đã thấy làm vinh hạnh lắm. Thế cũng đủ thấy tài đức của Ông được kính trọng thế nào.

Trong lịch sử Việt Nam, Ông là một trong những danh sư được người đời ca tụng, là hình mẫu và tấm gương tiết tháo, trung trinh của những bậc làm Thầy. Cùng với Trạng Trình, Ông đỗ đạt làm quan, mang tài lược hết lòng dạy học vì nước. Thấy triều đình thối nát thì làm hết trách nhiệm, chỉ mặt bọn gian thần, lòng thành không được nhận, thì rũ bỏ vinh hoa mà lui về làm Thầy, tiếp tục cuộc đời vì nước non trong thanh bạch, tiết nghĩa.

Bởi vì trong lịch sử nước ta đời nào cũng có những vị Thầy như Chu Văn An, như Nguyễn Bỉnh Khiêm nên nước ta đời nào cũng có người tài, truyền thống hiếu học không đời nào lụi tàn mà văn hiến nước nhà chẳng bao giờ mục thối.

Người Thầy trong xã hội đời nào cũng thật đáng kính trọng biết bao nhiêu!


Tổng đốc Hoàng Diệu (tên thật: Hoàng Kim Tích) là một quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882.

Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng. Năm 25 tuổi, Ông đỗ Phó bảng, vua Tự Đức sai làm Tri huyện Tuy Phước, sau là Tuy Viễn. Năm 1868, Ông lần đầu ra Bắc nhậm chức. Năm 1873 về Huế làm Tham tri tại các Bộ. Cùng năm 1873, Pháp chiếm xong Nam bộ, chuẩn bị tiến quân ra Bắc.

Từ 1879 đến 1882, Ông làm Tổng đốc Hà Ninh theo lệnh vua Tự Đức nhằm chuẩn bị chống Pháp. Nhưng về sau, Ông xin viện binh mấy lần, Vua không cho, còn bắt giải giới, đầu hàng Pháp.

Thời gian làm Tổng đốc Hà Ninh, Ông hết mực chăm lo đời sống dân chúng, bài trừ nạn cướp bóc, nhũng nhiễu nhân dân. Ở Ô Quan Chưởng ngày nay còn một phần tấm bia Lệnh cấm trừ tệ (Thân cấm khu tệ), niêm yết năm 1881 của Ông.

Năm 1882, Pháp tiến quân áp sát thành Hà Nội, Hoàng Diệu ra lệnh giới nghiêm, bố phòng sẵn sàng đánh lui quân xâm lược. Nhưng Vua Tự Đức nghe lời phe chủ bại, hạ lệnh Ông phải đầu hàng. Quyết tâm giữ thành cùng nhân dân Bắc hà, Ông và các tướng sĩ chỉ huy đã uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với nhân dân.

Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, Henri Rivière cho tàu chiến áp sát thành Hà Nội, đưa tối hậu thư, yêu cầu Hoàng Diệu đầu hàng. Hoàng thân Tôn Thất Bá chạy trốn vào làng Mọc (Nhân Mục), theo Pháp và thông báo tình hình trong thành Hà Nội cho họ.

Tuy vậy, quân Pháp vẫn vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân Hà thành dưới sự chỉ huy của Hoàng Diệu. Quân Pháp bị thiệt hại nặng và phải rút ra ngoài tầm súng để củng cố lực lượng.

Nhưng trong lúc chiến sự diễn ra khốc liệt thì kho thuốc súng của Hà Nội nổ tung dẫn tới đám cháy lớn trong thành làm cho lòng quân hoang mang. Quân Pháp thừa cơ phá được cổng Tây thành Hà Nội, ùa vào thành.

Trong tình thế tuyệt vọng, Hoàng Diệu vẫn tiếp tục bình tĩnh dẫn đầu quân sĩ chiến đấu. Cuối cùng, Ông ra lệnh cho tướng sỹ giải tán để tránh thương vong. Ông để lại tờ di biểu rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi. Tờ di biểu, ông cắn ngón tay lấy máu viết tạ tội Vua Tự Đức rằng:

“Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng...”
==//==
Dòng máu trong người Ông là dòng máu Việt. Chí khí trong người Ông là chí khí Việt. Hơn thế nữa, Ông một mình ra Bắc, quyết giữ Bắc hà không để chung số phận như Nam hà. Nhưng tiếc thay, lúc Ông có lòng dân, triều đình lại chẳng nghe theo mà bọn Việt gian thì lắm đầu. Nếu kho thuốc súng không nổ, chẳng lẽ người Pháp hạ được thành ngay lúc đó???

Nhưng gương trung kiên, tiết liệt của Tổng đốc Hoàng Diệu như ngọn lửa bất khuất của người Việt Nam không bao giờ tắt. Dù có thể tiền nhân đã không nhìn thấy “yếu tố thời đại” để tìm ra hướng đi hiệu quả hơn, nhưng với Ông còn con đường nào ngoài con đường nối chí Cha Ông giữ lấy từng tấc đất giang sơn không để rơi vào tay giặc bằng bất cứ giá nào, kể cả hy sinh đến giọt máu cuối cùng.

Ngày Ông hóa thân, vợ Ông đang giẫy cỏ ngoài đồng nghe tin mà ngất lịm. Gia cảnh nghèo khó của vị quan Tổng đốc kiên trung đủ nói lên tấm lòng của người nước Nam với nước Nam trong cơn binh lửa. Hết lòng vì nước vì dân thì hình ảnh Ông còn sống mãi và phù hộ cho đất nước vững bền đến nghìn năm sau.

Hậu thế noi gương Ông, không phải chỉ ở tấm gương kiên trung giữ thành, nhưng còn là chí khí của người nước Nam ngàn năm nay luôn quyết giữ lấy từng thước núi, tấc đất, tấc biển của Cha Ông cho bền vừng đến nghìn năm mà truyền lại cho con cháu.

Hội những người YÊU SỬ VIỆT. 


(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyên Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)

Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
Bốn bề hổ thét chim kêu
Ðoái nom phong cảnh như khêu bất bình

Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
Chút thân tàn lần bước dậm khơi
Trông con tầm tã châu rơi
Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:

Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định
Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay
Trời Nam riêng một cõi này
Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!

Than vận nước gặp khi biến đổi
Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng
Bốn phương khói lửa bừng bừng
Xiết bao thảm hoạ xương rừng máu sông!

Nơi đô thị thành tung quách vỡ
Chốn dân gian bỏ vợ lìa con
Làm cho xiêu tán hao mòn
Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!

Thảm vong quốc kể sao cho xiết
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Ngậm ngùi khóc đất giời than
Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!

Khói Nùng lĩnh như xây khối uất
Sóng Long giang nhường vật cơn sầu
Con ơi! càng nói càng đau...
Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?

Cha xót phận tuổi già sức yếu
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay
Thân lươn bao quản vũng lầy
Giang sơn gánh vác sau này cậy con

Con nên nhớ tổ tông khi trước
Ðã từng phen vì nước gian lao
Bắc Nam bờ cõi phân mao
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây

Kìa Trưng nữ ra tay buồm lái
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong
Giết giặc nước, trả thù chồng
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi

Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến
Vì giống nòi quyết chiến bao phen
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên
Gươm reo chính khí nước rền dư uy

Coi lịch sử gươm kia còn tỏ
Mở dư đồ đất nọ chưa tan
Giang san này vẫn giang san
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?

Con nay cũng một người trong nước
Phải nhắc câu Gia, Quốc đôi đường
Làm trai hồ thỉ bốn phương
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng

Thời thế có anh hùng là thế
Chữ vinh hoa xá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia
Hy sinh thân thế cũng vì nước non

Con đương độ đầu xanh tuổi trẻ
Bước cạnh tranh há dễ nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi
Đừng tham phú quí mà nguôi tấc lòng

Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục;
Thân tự do chiên chúc mà vinh
Con ơi nhớ đức sinh thành
Sao cho khỏi để ô danh với đời

Chớ lần lữa theo loài nô lệ
Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai
Đem thân đầy đoạ tôi đòi
Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?

Sống như thế, sống đê, sống mạt
Sống làm chi thêm chật non sông!
Thà rằng chết quách cho xong
Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!

Huống con cũng học hành khôn biết
Làm giống người phải xét nông sâu
Tuồng chi gục mặt cúi đầu
Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành!

Nỗi tâm sự đinh ninh dường ấy
Cha khuyên con có bấy nhiêu lời
Con ơi! con phải là người
Thì con theo lấy những lời cha khuyên

Cha nay đã muôn nghìn bi thảm
Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau!
Chân mây mặt cỏ rầu rầu
Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!

Lời cha dặn khắc xương để dạ
Mấy gian lao con chớ sai nguyền
Tuốt gươm thề với vương thiên
Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu

Gan tráng sĩ vững sau như trước
Chí nam nhi lấy nước làm nhà
Tấm thân xẻ với san hà
Tượng đồng bia đá hoạ là cam công

Nữa mai mốt giết xong thù nghịch
Mũi long tuyền lau sạch màu tanh
Làm cho đất rộng trời kinh
Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày!

Nghĩa vụ đó con hay chăng tá?
Tính toán sao vẹn cả đôi đường
Cha dù đất lạ gởi xương
Trông về cố quốc khỏi thương hồn già

Con ơi! Hai chữ nước nhà!

http://www.thivien.net/Tr%E1%BA%A7n-Tu%E1%BA%A5n-Kh%E1%BA%A3i/Hai-ch%E1%BB%AF-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-nh%C3%A0/poem-kvPxFzeOsCyzIUZKDlYFYg


Một đêm giăng mờ lạnh lẽo. Tiếng tiêu nào trên ngàn xa văng vẳng trong sương. Trên một khu rừng gần Ải Nam Quan, chi chít cây cối, có một bóng đen vạch cây, rẽ lá tìm đường.

Gần chỗ ấy, Nguyễn Phi Khanh bị giam trong một cái cũi lớn. Lúc đó đã nửa đêm. Bốn bề tịch mịch. Duy có tiếng tiêu vẫn réo rắt, não nùng. Thỉnh thoảng có tiếng mõ cầm canh xa xa. Hồi lâu, Phi Khanh hơi cử động và ngồi dậy.



Phi Khanh

Đây biên giới hai nước thù đẫm máu;
Đây Nam Quan... con mắt khép tình thâm
Lối qua lại của một loài cuồng khấu
Là Nam Quan... chua xót bóng nghìn năm.
Đây Nam Quan, bốn bề sương lạnh lẽo,
Hồn thuở xưa lay động bóng tinh kỳ
Ai đi sứ nơi quê người lẽo đẽo
Cỏ hoa rừng dâng lệ khóc phân ly?!
Đây Nam Quan, những u hồn thấp thoáng
Đứng đầu non, trông rõi bóng quê hương
Đây Nam Quan, anh hùng xưa lảng vảng
Trỏ sang Tàu, vẽ máu trên đường gươm.
Đây Nam Quan, nơi tướng quân họ Lý
Đuổi quân thù để cứu lấy dân sinh
Lại phóng xá cho giống người tiểu kỷ
Rút binh về, múa tít lưỡi gươm linh
Đây Nam Quan, quân Nguyên rời biển máu
Thoát rừng xương, tơi tả kéo nhau về
Say chiến công, tướng nhà Trần lảo đảo
Nắng chiều hôm rung động ánh gươm thề.
Màu thời gian phất phơ làn khói biếc
Bóng người xưa lồng lộng tít trời xanh
Đến bây giờ Thăng Long nằm đợi chết
Đau lòng ta tiếng gọi dưới trăng thanh
Nước phá, nhà tan, muôn dân u uất!
Biết bao giờ lau sạch máu trên đầu?
Mấy cha con như thần vụt tắt,
Đường xa xôi, huyết lệ chảy về đâu?

(Nguyễn Trãi đi đến, nép vào một bụi cây, lắng nghe)

Trãi

Góc trời Nam, ánh sao thần vụt tắt,
Thành Thăng Long nghi ngút chuyện thương đau
Phụ thân ôi! Chiến bào đầy nước mắt,
Biết bao giờ lau sạch máu trên đầu?!

Phi Khanh

Ai?

Trãi

Thưa phụ thân, con, đây Nguyễn Trãi!

Phi Khanh

Kìa, đêm khuya sao lại đến tìm cha?

Trãi

Đêm giá lạnh, quân canh vì trễ nải
Con băng rừng, tìm nẻo đến thăm cha.

Phi Khanh

Đây là chốn ải địa đầu nước Việt
Khắc trong lòng ghi nhớ hận Nam Quan
Bao năm trời nằm sương và gối tuyết
Cha hằng mong thiên hạ được bình an
Bên đất khách khi đến giờ nhắm mắt
Cha sẽ cầu con trả được thù chung
Ngày mai đây, tấm thân tàn sẽ mất
Nhưng linh hồn bay lại với non sông
Con về đi! Cha yên tâm chịu khổ!
Con về đi! Đúc thép chống giang san
Cha tin chắc đường gươm nơi đất Tổ
Sẽ có ngày sáng chói những vinh quang
Con về đi!

Trãi

Thưa cha đau đớn lắm,
Nỗi chia lìa tê buốt bóng trăng xa
Như thân con có quản gì bụi lấm
Xin theo hầu thân phụ đến Trung Hoa,
Để cùng cha, một mai cùng biết chết,
Cùng hai anh chia xẻ nỗi đau buồn.

Phi Khanh

A! Nguyễn Trãi! Hãy dẹp tình thảm thiết
Trông đằng sau: xương máu ngập giang sơn
Cha sinh con, nghĩa là gây sức mạnh
Cha nuôi con, là hy vọng về sau
Đến ngày nay, giữa đường cha đứt gánh
Thì con ôi! Tung kiếm cho quên sầu!
Con về đi! Cha vui lòng vĩnh biệt
Con về đi! Rửa nhục cho non sông
Con phải nhớ: con là dòng tuấn kiệt,
Trong người con cuồn cuộn máu anh hùng

Trãi

Nhưng bên trời, cha cùng anh tắm máu
Con lòng nào yên sống giữa quê hương
Ôi! Ðại Việt! vào tay loài thảo khấu,
Khói nghìn năm thoi thóp trên sa trường
Khắp non sông vừa tàn cơn ác mộng
Tình yên vui, trăm họ nén đau thương
Ai đồng chí trong đám người ham sống
Trên kinh thành lơ lửng một thanh gươm!
Kìa nghìn dặm trên đường về thui thủi
Lưới quân Minh căng đợi khách giang hồ
Một mãnh hổ chống sao đàn chó sói
Thân tan tành bêu máu chợ Kinh Đô
Con xin cha, cho con theo bóng áo,
Cùng ôm nhau, cùng chết dưới gươm thù
Không tận trung, thôi đành con tận hiếu,
Kiếp này mong khỏi thẹn với nghìn thu

Phi Khanh

Không thể được! Định sang Tàu chết nhục
Làm con ma uất hận giữa quê người!
Con hèn quá, con làm cha tủi cực,
Thôi! Mong gì báo đáp một ngày mai!
Giống Đại Việt không bao giờ hèn yếu,
Tự nghìn xưa ngẩng mặt lên trời cao
Ôi! Kiêu hãnh là những trang niên thiếu
Tự nghìn xưa không nhụt chí anh hào!
Gái cùng trai trên non sông gấm vóc
Đã thêu bằng huyết lệ, bằng gươm đao
Những trang sử đẹp như vàng với ngọc
Bóng muôn đời không thẹn với trăng sao!
Con là trai mà không bằng nhi nữ
Cha sinh con hổ thẹn với trời xanh
Mong chết uổng chỉ là người úy tử
Sống bẽ bàng thêm tủi mặt tài danh.
Người trượng phu nên tìm đường mà chết
Chết làm sao vang động khắp nghìn phương
Chết làm sao cho kẻ thù tiêu diệt!
Chết làm sao mà vạn thuở nhớ thương!
Kìa cái cchết bậc anh thư ngày trước
Muôn nghìn năm quốc sử ngát trầm hương
Con hãy trả xong thù nhà nợ nước,
Muốn theo cha thì chết trên sa trường!

Trãi
(mơ màng nhìn về phía xa)

Ôi! Bóng quê hương ngả nắng chiều
Những mùa thu cũ gợi thương yêu
Mái tranh xơ xác, thềm giăng lạnh
Sân mốc, vườn hoang, gió tịch liêu
Tre xanh san sát chuyện gươm đao
Đứng rũ tà huy nhuốm máu đào
Thép rỉ buồn tênh lời sắt đá,
Gươm cùn tựa nguyệt giấc chiêm bao
Chí khí phai dần trên kỷ niệm
Như đường tơ nhạt nếp thời gian
Bao giờ dứt lệ quên đau khổ
Tung kiếm nghìn thu quét bạo tàn.

Phi Khanh

Con yêu quý! Chớ xuôi lòng mềm yếu
Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!
Con về đi! Tận trung là tận hiếu
Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang
Nếu trời muốn cho nước ta tiêu diệt
Thì lưới thù sẽ úp xuống đầu xanh
Không bao giờ! Không bao giờ con chết
Về ngay đi rồi chí toại công thành!
Nghĩ đến cha một phương trời ảm đạm
Thì nghiến răng vung kiếm quét quân thù
Trãi con ơi! Tương lai đầy ánh sáng
Cha đứng đây trông suốt được nghìn thu.

Trãi
(quỳ lạy)

Cha nói đến tương lai đầy ánh sáng
Khiến lòng con bừng tỉnh một cơn mê
Quỳ lạy cha, cha lên đường ảm đạm
Rời Nam Quan, theo gió, con bay về.

Phi Khanh

Ôi! Sung sướng, trời sao chưa nỡ tắt
Về ngay đi! Ghi nhớ hận Nam Quan
Bên Kim Lăng, cho đến ngày nhắm mắt
Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.

Trãi

Hận Nam Quan, biết bao giờ phai nhạt,
Biết bao giờ cạn lệ khóc cha già
Lúc vĩnh biệt thật trăm nghìn chua xót!

Phi Khanh

Kìa con trông: nắng hé chân trời xa.

Trãi

Chân trời xa!

Phi Khanh

Về ngay đi Nguyễn Trãi
Nâng gươm thề, đem quốc sử mà soi.

Trãi

Đã đến giờ con lìa xa quan ải,
Kể từ nay Nam Bắc cách đôi nơi.

Phi Khanh

Đêm sắp cạn, về ngay đi Nguyễn Trãi,
Nhớ Nam Quan là vết máu trên đầu.

Trãi

Đêm Nam Quan là con dao hai lưỡi,
Trích lòng con thành một vết thương sâu
Trông phía Bắc thì xót thương dòng máu
Ngó về Nam thì tan tác gia hương
Càng thảm khốc, càng bền gan chiến đấu
Bụi hồng bay, quay tít một thanh gươm
Giống nòi ấy, nghe lời oanh liệt cũ
Sẽ vùng lên như trận gió điên cuồng!
Hỡi quân Minh! Sao không nhìn lịch sử
Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương?
Hãy chờ đấy mà nếm mùi thất bại,
Tàn ác đi rồi trả nợ về sau!
Hãy chờ đấy, trông sao thần sáng chói,
Trong trần ai, ai dễ biết ai đâu!
Một ngày mai con tung gươm cất cánh
Trời quê hương rực lửa những đêm thiêng
Cha phù hộ cho con tròn sứ mệnh
Bại hay thành là theo lệnh Hoàng Thiên
Một ngày mai, khi Trãi này khởi nghĩa,
Kéo cờ lên, phấp phới linh hồn cha
Gạt nước mắt, con nguyện cầu cùng thiên địa,
Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.

Phi Khanh

Máu anh hùng! Trôi đi mà rửa nhục,
Kìa con trông: nắng nhuộm chân trời xa.

Trãi

Con xin về, mài gươm chờ báo phục.

Phi Khanh

Cha mỉm cười nhắm mắt bên Trung Hoa.

Trãi

Tình phụ tử chia lìa, ai nín khóc
Bóng đêm tàn cay đắng tấm lòng con!
Trời thẳm xa, đoạt mất quyền họa phúc.

Phi Khanh

Kìa con trông: nắng xõa trên đầu non

Trãi

Trên ngọn núi, nắng phơi màu hy vọng
Con biết rồi, bóng dáng của nghìn xưa
Con hiểu rồi, linh hồn cha cao rộng
Sẽ bay về theo lớp gió mây đưa
Tiếng chim ca vang lừng, sao mãnh liệt!
Gió bình minh phơi phới tuổi thanh xuân

(lùi dần vào các khóm cây)
Kính chúc cha lên đường sang cõi chết,
Vui từ nay cho đến lúc ly trần.

(Tiếng tiêu vẫn mơ màng, gió sớm nổi lên, Phi Khanh quắc mắt nhìn theo con)


Đặng Tất (1357 -1409) quê ở Hà Tĩnh, làm chức châu phán Hóa châu dưới triều nhà Hồ. Nhà Minh xâm chiếm Đại Ngu, họ Hồ thất bại, người Chiêm tiến quân chiếm lại đất cũ Thăng Hoa, Đặng Tất xin với Trương Phụ cho mình cai quản Hóa châu. Trương Phụ cho Đặng Tất làm Đại tri châu Hóa châu, người Chiêm rút binh về.

Khi Trương Phụ dẫn quân về nước, Trần Ngỗi khởi nghĩa, lập ra nhà Hậu Trần, xưng là Giản Định đế, khởi binh ở Ninh Bình. Đặng Tất nghe tin, liền giết quan nhà Minh ở Hóa châu, đem quân ra theo Giản định đế, được phong làm quốc công. Quân Hậu Trần tiến quân ra Bắc, đánh bại Mộc Thạnh ở trận Bô Cô, Mộc Thạnh chạy rút vào thành Cổ Lộng. Giản Định đế muốn tiến binh đuổi gấp, đánh Đông Quan, Đặng Tất chủ trương tiêu diệt những kẻ còn sống sót và bao vây các thành.

Tháng 2 năm 1409, Giản Định đế nghe lời gièm pha, triệu Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đến và giết chết họ.
==//==

Đến tận hôm nay, cái chết của Đặng Tất vẫn còn mang nhiều nỗi niềm và phân giải của hậu thế.

Bước đầu giặc mới sang còn mạnh, còn hung hãn, Đặng Tất biết nhún nhường chờ đợi thời cơ. Khi nghe tin họ Trần khởi nghĩa, ông liền giết quan Minh, kéo binh mã các lộ ở Hóa Châu mà về cùng mưu phục quốc.

Ngay trận đầu tiến quân ra Bắc, Ông đã đánh cho tên tướng Minh Mộc Thạnh một trận thừa sống thiếu chết ở Bô Cô, khiến hắn phải bỏ chạy về Cổ Lộng, ngóng chờ Trương Phụ viện binh từ Đông Quan. Vua muốn tiến, Ông nhìn thấy thế chưa tiến được. Làm trái ý vua vì nghĩa trọn với giang sơn nên cuối cùng bị chính Vua mình thờ hại chết. Nhưng oan nghiệt thay cho cái chết của trung thần là do bọn thái giám gièm pha.

Vậy mới nói, cái chết Đặng Tất hậu thế tiếc thương là một, mà nuốt mật học bài học đoàn kết Vua – Tôi là mười.

Người đã chết rồi, chuyện cũng đã xảy ra nên không thể đoán tính làm sao. Nhưng trong 7 năm mà Nhà Trần tưởng mất lại phục hưng, còn thắng một trận lớn ở Bô Cô thì thế quân, thế nước theo đó mà tiến thì chưa biết 20 năm Bắc thuộc lần IV có xảy ra hay không? Nhưng nghĩ lại, Giản Định Đế Trần Ngỗi không biết lấy việc nước làm trọng, lấy tôn miếu xã tắc làm hơn và lấy con dân làm nhớ mà nghe lời kẻ hoạn quan để giết oan bậc tướng trung dũng đến nối phải chết ở Kim Lăng (Trung Quốc) thì rõ là thời vận nhà Trần cũng đến lúc hết.

Nước ta bao giờ chẳng phải là mồi ngon cho cường quốc. 1.000 năm bắc thuộc, thêm gần 1.000 năm độc lập, chỉ Trung Hoa là mưu đồ đồng hóa nước ta vào nước họ. Sau này có thêm đế quốc, thực dân vào toan tính chuyện của cường quốc, nhưng xuyên suốt vẫn thấy bóng dáng của “thiên triều” Trung Quốc muốn thôn tính và đồng hóa nước ta.

Nên, bài học đoàn kết của 1.000 năm đô hộ, 1.000 năm độc lập vẫn còn đó để nhắc nhở chúng ta và con cháu dòng giống Lạc Việt chúng ta về dã tâm thôn tính đất nước này, dân tộc này của những người lãnh đạo Hán tộc.

Nhưng nếu dân ta đoàn kết, trên dưới một lòng, thì chẳng những dã tâm bành trướng Trung Hoa đời đời không bao giờ thành hiện thực mà đến thiên thu vạn đại Tổ quốc ta vẫn trường tồn. Đó là trách nhiệm viết tiếp và viết mãi lịch sử hào hùng từ Tổ tiên ta cho đến tận thời Con Cháu chúng ta.

Nguồn: https://www.facebook.com/yeusuviet/photos/a.399500773432770.87498.398545340194980/1103246203058220/?type=3&theater


==//==
Năm 1258, quân Mông Cổ tràn vào xâm lược nước ta, “Tháng 9, Trần Thái Tông xuống chiếu, lệnh cho tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới (phía Bắc) theo sự tiết chế của Quốc Tuấn”. Ngày 24/12/1258, quân Trần đập tan tác quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu, chấm dứt cuộc xâm lược Đại Việt.

Năm 1279, quân Mông Cổ thôn tính nhà Nam Tống (Trung Quốc), thành lập nhà Nguyên, mở rộng lãnh thổ đế quốc Mông Cổ đến biên giới Đại Việt.

Năm 1282, Nguyên Mông vượt biển thôn tính Chiêm Thành, làm bàn đạp đánh chiếm Đại Việt.
Năm 1283, Vua Trần Nhân Tông phong Hưng Đạo Vương làm Quốc công Tiết chế, thống lĩnh các lực lượng quân sự - đặt vận mệnh quốc gia trong tay Ngài.

Đầu năm 1285, quân Nguyên Mông lại ào ạt tiến công vào phía bắc và vùng Thanh Hóa-Nghệ An, bắt đầu dã tâm xâm lược.

Thế giặc như vũ bảo, quân Trần như tan vỡ, vua Trần lo lắng cho sinh mệnh con dân, hỏi ý Ông thế nào, Ông khẳng khái: “Bệ hạ chém đầu thân rồi hãy hàng”.

Cuối cùng, tháng 5 năm ấy, Hưng Đạo Vương vạch kế hoạch tổng phản công. Sau một tháng, đã quét sạch quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi, thái tử Thoát Hoan phải chui ống đồng về nước. Cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai chấm dứt.

Năm 1287, quân Nguyên Mông quyết xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Trần Nhân Tông hỏi ông: “Năm nay đánh giặc thế nào?”, Trần Hưng Đạo đáp: “Năm nay đánh giặc nhàn”.

Tháng tư (Âm lịch) năm Mậu Tý 1288, Hưng Đạo Vương dàn hỏa trận trên Bạch Đằng Giang, nhấn chìm toàn bộ binh thuyền của Nguyên Mông bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ. Thoát Hoan lần thứ hai tháo chạy về nước. Đại Việt lần thứ ba đứng vững trước cơn lốc xâm lược của đế quốc Mông Cổ hùng mạnh.

Tháng Tư (âm lịch) năm Kỷ Sửu (1289), luận công ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo được phong tước Hưng Đạo đại vương. Sau đó, ông lui về ở Vạn Kiếp, là nơi ông được phong ấp (nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Nhân dân lúc bấy giờ kính trọng ông, lập đền thờ sống ông ở Vạn Kiếp. Tại đền có bài văn bia của vua Trần Thánh Tông, ví ông với Thượng phụ (tức Khương Tử Nha).

Nguồn: Hội những người YÊU SỬ VIỆT
https://www.facebook.com/yeusuviet/photos/a.399500773432770.87498.398545340194980/1088556954527145/?type=3&permPage=1 


Nữ tướng Bùi Thị Xuân (1771 - 1802) là một trong “Tây Sơn ngũ phụng thư”, là vợ Thái phó Trần Quang Diệu và là một Đô đốc của vương triều Tây Sơn. Bà là người ở thôn Xuân Hòa (nay thuộc thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Ngày 29 tháng 7 năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, vương triều Tây Sơn bắt đầu suy yếu. Trận Trấn Ninh – trận quyết tử chiến cuối cùng của thời kỳ “phân chia đất nước”, Bà đã sống trọn những giây phút khí tiết can trường nhất của người đại tướng cầm quân trong buổi anh tài đất nước như sao đêm rực sáng trời Nam.

Trong trận chiến oanh liệt đó, nữ tướng Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh riết vào lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Phúc Ánh đang cố thủ, từ sáng đến chiều, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp. Rồi bà còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi. Lúc bấy giờ chúa Nguyễn cùng tướng tá đã hốt hoảng vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thoát thân.

Nào ngờ vua Cảnh Thịnh thấy quân Nguyễn tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn liền cho lui binh. Bùi Thị Xuân bèn nắm áo ngự bào của nhà vua để khuyên cố đánh. Nhưng khi nghe tin tướng Nguyễn Văn Trương phá tan thủy binh Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình), cướp được hầu hết tàu thuyền và tướng giữ cửa Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng; thì đội quân của bà hốt hoảng bỏ cả vũ khí, đạn dược để tháo chạy... Đây có thể nói là trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng của bà để hòng cứu vãn tình thế. Nhưng ngờ đâu nhà Tây sơn, sau trận này thêm trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa...

Trong buổi hành hình các đại tướng nhà Tây Sơn, bà đã khẳng khái trả lời vua Gia Long rằng:

“Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà...”
==//==

Trong cuộc chiến Tây Sơn – Triều Nguyễn, hay nói đúng hơn, phải là cuộc chiến Quang Trung – Nguyễn Ánh, chưa khi nào những vị đại tướng cầm quân ngang dọc khắp đất trời Nam lại nhiều và uy dũng, hào hùng, bi hùng như trong thời kỳ này, nữ tướng Bùi Thị Xuân là một trong số những vị đại tướng tiêu biểu đó.

Bà là hiện thân cho khí tiết anh hùng của người nữ nhi trời Nam. Từ Mẹ Âu Cơ bắt đầu huyền thoại Mẹ Tiên đến Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi đánh giặc ngoại xâm, uy hùng giữa trăm ngàn quân giặc và cả những vị công chúa An Tư, Huyền Trân vì đại nghĩa quốc gia mà hy sinh cả cuộc đời, nữ tướng Bùi Thị Xuân đã viết tiếp bản trường ca nữ nhi anh hùng bất tận đó một cách oai hùng và bi hùng nhất.

Nguồn: Hội những người YÊU SỬ VIỆT
https://www.facebook.com/yeusuviet/photos/a.399500773432770.87498.398545340194980/1084164048299769/?type=3&theater 


Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cuộc mít tinh tại quảng trường Nhà hát lớn (thủ đô Hà Nội) diễn ra với hàng nghìn ngưởi tụ họp. Từ buổi chiều hôm đó, phong trào cách mạng giành chính quyền của nhân dân lan rộng khắp cả nước. Kết quả, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” một cách công khai và chính thức trong cả nước, tuyên bố sự tự do – độc lập của người Việt Nam trước các đế quốc Nhật Bản, Pháp và thế giới, chuẩn bị tổng tuyển cử để bầu ra Chính phủ của người Việt Nam.

Nhưng, ngoài thời cơ giành chính quyền năm 1945, Việt Nam lúc đó còn có một “thời cơ” khác mà chúng ta đã không thể nắm lấy vì rất nhiều lý do, đó là thời cơ “bắt tay” với nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương.

Trước đó, năm 1829, khi Tổng thống Andrew Jackson vừa lên nhậm chức đã cử phái bộ của Bộ ngoại giao sang đặt vấn đề thông thương với Đại Nam, nhưng sự việc không thành.

Năm 1845, chiến thuyền Constitution của Hoa Kỳ đã cập bến Đà Nẵng. Thuyền trưởng là John Percival liên lạc với triều Nguyễn để đặt mối giao hảo. Nhưng do vấn đề bách đạo Công giáo đời vua Thiệu Trị, nỗ lực bang giao Việt-Mỹ bế tắc.

Năm 1873, lần này do xúc tiến của triều đình nhà Nguyễn, Bùi Viện được vua Tự Đức cử sang Mỹ như một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền" để cầu viện tìm cách chống Pháp. Nhưng đến tận năm 1875, gặp lúc Mỹ và Pháp đã hết thù địch nên TT. Ulysses Grant lại khước từ cam kết giúp Đại Nam đánh Pháp.

Sáng ngày 16/7/1945, sáu thành viên Đội Hươu (nhóm tình báo do OSS – tiền thân của CIA, thành lập) lên một chiếc máy bay C-47, nhảy dù xuống Tân Trào để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện quân đội Việt Minh trong vài tuần của tháng 7 và tháng 8. Đây là dấu mốc đầu tiên cho mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thế kỷ XX.

Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ H. Truman một bức thư để nêu lên sự chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp tại Việt Nam và bày tỏ sự mong muốn “hợp tác đầy đủ” với Hoa Kỳ. Bức thư này đã được nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gửi tặng Tổng thống Mỹ B. Obama trong chuyến thăm chính thức ngày 28/7/2013. Đây là dấu mốc thứ hai cho mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), Mỹ đã giúp Pháp trong cuộc chiến chống cộng và đến năm 1963, Hoa Kỳ chính thức tham chiến tại Việt nam với vai trò đồng minh của Việt Nam Cộng hòa chống lại quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ 1975 đến 1994, Hoa Kỳ đã cấm vận Việt Nam. Trong thời gian này, từ 1977 đến 1978 Việt Nam và Hoa Kỳ đàm phán bình thường hóa quan hệ nhưng không thành, một phần do Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường những tổn thất mà họ đã gây ra ở Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ đã bác bỏ.

Ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Ngày 23/5/2016, Tổng thống Barack Obama công bố quyết định dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí áp lên Việt Nam kéo dài từ năm 1975 đến nay.

Và hiện nay, trước những động thái hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông và tham vọng làm bá chủ tuyệt đối tại vùng biển này, Việt Nam và Hoa Kỳ lại có một thời cơ thúc đẩy để đến gần với nhau hơn nữa kể từ ngày 16/7/1945 với sự hiện diện của lực lượng OSS bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Tuy nhiên, chắc chắn rằng, lợi ích quốc gia vẫn là mục đích tối thượng của các bên trong hợp tác và cũng chính lợi ích quốc gia sẽ dẫn dắt và cho phép Việt Nam hôm nay lựa chọn con đường hợp tác phù hợp nhất, hữu hiệu nhất cho chính mình.

Nhưng dù sao đi nữa, Việt Nam chưa bao giờ và không bao giờ hợp tác với một nước để chống lại nước khác. Do đó, chỉ có chính tiềm lực và sức mạnh của người Việt Nam mới là yếu tố quan trọng nhất, hiệu quả nhất để người Việt Nam giữ lấy thành quả độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà CÁCH MẠNG THÁNG 8 đã mang lại.

(Kiến Thức) - Để phát hiện và sử dụng nhân tài, hai phương thức chính được các triều đình phong kiến Việt Nam là tiến cử hoặc bảo cử và thi cử.

Những ngày này, cử tri cả nước đang háo hức chào đón ngày hội bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV của đất nước. Trong không khí chào đón ngày trọng đại này, cùng quay ngược thời gian tìm hiểu quy trình tiến cử, tuyển chọn nhân tài trong các triều đại phong kiến Việt. 
Tuyển chọn quan lại theo cách nào?
Thời phong kiến, ngôi vua là cha truyền con nối nên dẫn đến trong việc tuyển quan lại có thể lệ tập ấm, tức là các con cái quan lại thì có suất để được bổ nhiệm làm quan, mà không phải qua thi cử. Học giả Đào Duy Anh, trong cuốn "Việt Nam văn hóa sử cương", đã tóm tắt về chế độ tập ấm như sau: Các triều Lý, Trần, Lê vẫn có lệ thừa ấm, hễ con các quan thì lại được bổ làm quan. Ở triều Lê vẫn có lệ thừa ấm, có khoa nhiệm tử, cốt lấy con các quan mà bổ dụng.
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet
 Ảnh minh họa.
Triều Nguyễn cũng có lệ tập ấm, phàm quan chính nhất phẩm thì còn được tập ấm theo hàng tùng lục, gọi là ấm thọ, đó là bậc cao nhất; còn bậc thấp nhất thì các quan tùng ngũ được một người con tập ấm gọi là ấm sinh. Tuy nhiên, phép thế tập ở nước ta không giống như phép thế tập của quý tộc các nước châu Âu, vì lệ tập ấm chỉ hưởng được một hai đời... Ngoài chế độ khoa cử đặt từ triều Lý thì các triều Lý, Lê lại có phép tiến cử và phép bảo cử, phàm các quan to ai cũng phải cử một người có tài đức hoặc người có danh vọng để triều đình bổ dụng.
Tuy nhiên, chế độ tập ấm ở Việt Nam thời phong kiến chỉ có tính chất như một phần thưởng để động viên quan lại, chứ không phải nguồn chính để tuyển dụng người vào bộ máy nhà nước. Để phát hiện và sử dụng nhân tài, hai phương thức chính là tiến cử hoặc bảo cử và thi cử. 
Chế độ tiến cử và bảo cử thực chất là tương tự như nhau chỉ khác chút ít về hình thức. Trong đó, người tiến cử hoặc bảo cử phải là một vị quan đương nhiệm, còn người được tiến cử hoặc bảo cử thì có thể đang là quan hoặc chưa là quan. Nếu đang là quan thì thường được giới thiệu vào những vị trí cao hơn hoặc việc quan trọng đang khuyết người làm còn nếu là dân thường thì phải là người có thực tài, có đạo đức chói sáng và khi được tiến cử lên, bộ Lại và nhà vua sẽ xem xét tùy tài mà sử dụng. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-2
 Tranh minh họa vua Lê Thánh Tông.
Đến thời Lê Thánh Tông, việc tiến cử hay bảo cử này cũng được quản lý chặt chẽ bằng luật. Điều 174 của Bộ Quốc triều hình luật quy định: những người làm nhiệm vụ cử người, mà không cử được người giỏi thì bị biếm hoặc bị phạt theo luật nặng nhẹ, nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì bị xử nặng thêm hai bậc.
Trong ba con đường vào quan trường thời phong kiến thì chế độ khoa cử là chủ yếu nhất và rộng rãi nhất. Theo từ điển Bách khoa tri thức, chế độ khoa cử bắt đầu từ năm 1075 đời vua Lý Nhân Tông. Khoa thi cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ năm 1915 và Trung Kỳ năm 1918 triều Khải Định nhà Nguyễn. Mỗi khoa thi thời phong kiến gồm 3 cấp là: Thi Hương, thi Hội và thi Đình. 
Thi Hương là thi ở các địa phương. Thi Hội là về kinh đô. Sau khi đỗ thi Hội thì được vào sân rồng của vua thi với đề bài có thể do đích thân vua soạn. Nội dung các đề thi thường là hỏi về ý nghĩa kinh sách Nho giáo, thi làm thơ phú, trình bày quan điểm về đạo trị nước... Những người đỗ thi Hội trở lên được gọi là Tiến sĩ và có thể được bổ dụng các chức quan cao cấp trong triều đình. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-3
 Một cuộc thi Hương ở thành Nam thời Nguyễn. Ảnh tư liệu.
Trong gần 1000 năm đó, đã có hàng ngàn vị Tiến sĩ và hàng chục Trạng Nguyên được ghi danh thể hiện rõ ràng con đường khoa cử là con đường rộng rãi để các sĩ phu bước vào quan trường hành đạo giúp đời.
Bên cạnh ban văn, những người đi theo võ nghiệp muốn bước ra làm tướng, cũng theo ba đường như trên. Một là được tập ấm, hai là được bảo cử tiến cử và ba là thi cử. Lệ thi võ để chọn người làm quan võ, theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, bắt đầu từ năm 1723 dưới thời chúa Trịnh Cương. Chúa Trịnh học theo phép nhà Đường, nhà Tống, hạ lệnh 3 năm tổ chức một khóa thi võ. Các năm Tí Ngọ Mão Dậu thi ở địa phương và các năm Thìn Tuất Sửu Mùi thì thi ở kinh thành. 
Trong khoa thi võ đầu tiên này, đầu đề do chính chúa soạn và chia làm 3 kỳ thi. Kỳ thứ nhất hỏi sơ qua 6 câu về đại nghĩa trong binh pháp Tôn Tử. Kỳ 2 thi cưỡi ngựa múa đâu mâu, bắn cung, lăn khiên, múa kiếm, đấu kích, chạy bộ múa đâu mâu, lại đấu kiếm. Kỳ thứ 3 thi về phương lược đánh trận và một bài thơ đường. Đầu đề do chúa nghĩ soạn.
Trước khi có kỳ thi võ, từ thời Trần đã có Giảng võ đường làm nơi luyện tập võ nghệ binh thư nhưng chỉ giành cho tướng soái và con em quý tộc đến học và chưa có việc thi cử để ra làm quan võ một cách rõ ràng quy củ. Bởi thế thời đó các danh tướng phần lớn là quý tộc hoặc không cũng là gia nô, môn khách của quý tộc. Đó là trường hợp Yết Kiêu, Nguyễn Khoái, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão...
Biện pháp mạnh để quan liêm khiết
Dân gian Việt Nam thường nói “một người làm quan cả họ được nhờ” nhưng trong các thời kỳ phong kiến, các triều đình cũng luôn chú trọng việc đặt ra chế tài để tránh việc các quan lộng quyền và cài cắm người thân thích vào bộ máy. Theo sách "Việt Nam văn hóa sử cương", trong thời phong kiến, các vua chúa đã đặt ra một số quy định để hạn chế các đặc quyền của quan lại
Ví dụ pháp luật cấm quan địa phương không được thụ nhiệm ở tỉnh nhà hay ở nơi cách nhà không đầy 500 dặm để cho thân thích bằng hữu khỏi cậy thế cậy thần mà làm ngang. Cấm quan không được lấy vợ trong trị hạt vì sợ gia đình nhà vợ nhũng nhiễu.
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-4
 Tranh minh họa triều đình nhà Lê.
Cấm không cho tậu ruộng vườn nhà cửa trong trị hạt vì sợ quan hiếp bách kẻ trị hạ để mua rẻ. Cấm không được tư giao với đàn bà con gái ở nơi mình trị hạt để đừng treo gương xấu cho nhân dân. Cấm quan lại khi đã nghỉ hưu không được lui tới cửa công để thỉnh thác cầu cạnh.
Mặt khác, các quan không phải cứ ngồi vào làm quan rồi là ấm chỗ, mà phải tiếp tục phấn đấu để chứng tỏ năng lực nếu tốt thì được thăng chức còn không thì bị giáng chức hoặc cách chức. Trong các triều đại Lý, Trần, việc thăng giáng chức thường chỉ thực hiện khi có công hoặc tội bị phát giác. Nhưng đến triều vua Lê Thánh Tông, nhà vua cho thực hiện chế độ khảo thi và khảo khóa để định kỳ sát hạch quan lại cả về trình độ và tác phong làm việc. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-5
 Sĩ tử xem bảng vàng. Ảnh tư liệu.
Việc khảo thi, đối với quan văn thì thi giải kinh nghĩa các kinh sách Nho giáo, thi làm thơ và trả lời câu hỏi của vua về đạo trị nước. Quan võ thì thi bắn cung, đua ngựa, đấu khiên, đấu gươm, đấu vật, bày trận. Còn khảo khóa là nhận xét, đánh giá năng lực và kết quả công việc của mỗi vị quan. 
Đáng chú ý là việc khảo thi và khảo khóa được tiến hành với cả với các nhân vật con ông cháu cha vốn tiến thân từ con đường tập ấm. Như vậy biện pháp khảo khóa này cũng góp phần sửa chữa các hạn chế của chế độ tập ấm. Nó đòi hỏi các “con ông cháu cha” phải có một trình độ nhất định, làm được việc, nếu không sẽ bị sa thải.
Theo Đại Việt sử ký, tháng 11 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), Vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ về việc cấm để chậm các kỳ khảo khóa trong đó nói: “Phép khảo khóa cốt để phân biệt người hay, kẻ dở, nâng cao hiệu quả trị nước. Đời Đường, Ngu ba năm một kỳ xét công để thăng hạng. Nhà Thanh Chu, ba năm một lần xét việc để định thưởng phạt. Nay nha môn trong ngoài các ngươi, người nào nhậm chức đủ ba năm, phải báo ngay lên quan trên không được để chậm. Nếu quá một trăm ngày mà không kê danh sách gửi thì tính số người chậm, mỗi người chậm thì phạt một quan tiền, kẻ nào theo tình riêng mà dung túng đều phải trị tội cả”.
Thông qua khảo khóa, nhà vua và triều đình sẽ quyết định việc thăng giáng hoặc cách chức quan lại. Năm 1478, vua Thánh Tông nói rõ các quan viên nếu “hèn kém, đần độn bỉ ổi, không làm nổi việc thì đều bắt phải nghỉ việc và chọn người có tài năng, kiến thức, quen thạo công việc mà bổ vào thay”.
Đến năm 1488, vua Lê Thánh Tông chính thức quy định quy trình khảo khóa: “Ba năm tiến hành một lần sơ khảo, sáu năm thì tái khảo và chín năm thì thông khảo mới thi hành thăng chức người có công và truất chức kẻ có tội”. Nội dung và cách thức khảo khóa cũng được quy định là: “Trưởng quan các nha môn trong ngoài khi khảo khoá các quan viên trong phạm vi cai quản thì phải xét kỹ thành tích trong công việc mà viên đó đã làm. Nếu quả có lòng chăm nom, yêu thương, được nhân dân yêu mến và trong nơi cai quản ít kẻ trốn tránh thì mới xứng chức. Nếu vơ vét quấy nhiễu, gây tệ riêng tư và trong nơi cai quản có nhiều người trốn tránh thì không xứng chức”.
Có thể nói, nhờ những biện pháp mạnh đó, triều đại vua Lê Thánh Tông là triều đại cực thịnh trong thời phong kiến ở Việt Nam.
Nam Khánh


Nhà Hậu Lê (1427-1789) là một triều đại phong kiến Việt Nam, tồn tại sau thời Bắc thuộc lần 4 và đồng thời với nhà Mạc, nhà Tây Sơn trong một thời gian, trước nhà Nguyễn. Bao gồm 2 thời kỳ:

[---] Nhà Lê sơ (1428-1527): kéo dài 100 năm, bắt đầu từ khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Thái Tổ lập ra triều đại mới và kết thúc khi quyền thần Mạc Đăng Dung phế bỏ vua Lê Cung Hoàng lập ra nhà Mạc.

[---] Nhà Lê Trung Hưng(1533-1789): kéo dài 256 năm, bắt đầu từ khi Thượng tướng quân Nguyễn Kim lập tông thất Lê Duy Ninh lên ngôi, tức Lê Trang Tông tại Ai Lao để khôi phục nhà Hậu Lê; kết thúc khi Lê Chiêu Thống chạy sang lưu vong tại Trung Quốc dưới thời Thanh Cao Tông.

Thời Lê Trung Hưng tuy kéo dài nhưng các Hoàng đế nhà Lê mất thực quyền, chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Thời kỳ này còn có 2 sự kiện Nam - Bắc Triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh, khiến cho nhân dân bị đẩy vào vòng lửa chiến tranh, loạn lạc đến 275 năm, từ năm 1527 khi Nhà Mạc thành lập đến năm 1802 khi Nguyễn Ánh lập ra Nhà Nguyễn, thống nhất Đại Việt, chấm dứt nội chiến.

Tuy nhiên, thời kỳ Lê Sơ kéo dài 100 năm đã kịp đưa nền phong kiến Việt nam đến đỉnh cao, vĩ đại của đời sống sung túc, thịnh vượng, hùng mạnh dành cho nhân dân thời ấy.

Trong lịch sử dân tộc ta, thời kỳ Nhà Hậu Lê là một thời kỳ oanh liệt, tự hào và bi hùng.

Khởi đầu Nhà Hậu Lê bằng chến công 10 năm gian khổ đánh giặc Minh, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 4 của Lê Thái Tổ.

Tự hào khi bằng nội lực, tài năng và trí tuệ, trong vòng 100 năm, Nhà Hậu Lê đã đưa dân tộc đến địa vị một quốc gia hùng mạnh và phú cường trong khu vực thời bấy giờ.

Và bi hùng khi gần 300 năm tiếp theo, người Việt rơi vào cảnh "nồi da xáo thịt", nội chiến loạn lạc, nhân dân lầm than, quốc gia suy yếu. Năm 1802, khi Hoàng đế Gia Long lên ngôi, Triều Nguyễn cũng không thể giữ vững đất nước lâu dài, vì đến năm 1858, người Pháp đã bắt đầu nổ súng xâm lược.

Như vậy, lịch sử Việt Nam tính từ năm 1427 khi Lê Thái Tổ lên ngôi đến nay, thời kỳ chiến tranh, loạn lạc vẫn nhiều hơn thời thái bình, thịnh trị (100 năm thời Lê Sơ, 56 năm thời Nhà Nguyễn và hơn 41 năm từ năm 1975 đến nay).

Bởi thế, công cuộc tái thiết đất nước luôn luôn cấp thiết hơn bao giờ hết, nhất là trong thời kỳ hôm nay.


Thời Lê – Mạc tranh hùng (1533 – 1592) kéo dài đến một khoảng thời gian hơn 70 năm (1627 – 1699) của cuộc chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh là thời kỳ loạn lạc của dân tộc ta. Trong bức tranh rối ren của Đại Việt thế kỷ XVI – XVII, với một chút thi ca của kẻ sĩ “bình thiên hạ”, đã xuất hiện một dòng họ hùng cứ riêng một phương với thời gian gần 200 năm, nhưng ít được lịch sử nói đến, đó là Dòng họ Vũ và được dân gian gọi là “Chúa Bầu”.

Chúa Bầu là từ chỉ chung các đời dòng họ Vũ cát cứ ở Tuyên Quang suốt thời kỳ chia cắt Nam Bắc triều và Trịnh Nguyễn phân tranh trong lịch sử Việt Nam. Họ Vũ nhân thời loạn tự lập ở Tuyên Quang, chống chính quyền cai trị ở Thăng Long. Thời Nam Bắc triều, họ Vũ không theo nhà Mạc mà theo nhà Lê trung hưng ở Thanh Hoá, nhưng khi nhà Lê trung hưng về Thăng Long, họ Vũ cũng không thần phục hoàn toàn. Các đời họ Vũ trấn giữ trên thành ở núi Bầu nên được gọi chung là Chúa Bầu.

Người khởi nghiệp của các chúa Bầu họ Vũ là Vũ Văn Uyên, người thuộc tỉnh Hải Dương hiện nay. Thời vua Lê Chiêu Tông, ông hùng cứ ở trấn Đại Đồng (phủ Tuyên Quang), được nhân dân đi theo. Lúc đó Lê Chiêu Tông đang gặp thời rối ren ở kinh kỳ, phong cho ông làm Đô thống sứ trấn Tuyên Quang, tước Khánh Bá Hầu. Vũ Văn Uyên đóng căn cứ tại thành Nghị Lang.

Từ đó, các đời Chúa Bầu tùy từng lúc theo Mạc hay Lê có khác, những cũng thay nhau hùng cứ vùng Tuyên Quang, truyền được đến 7 đời, 6 thế hệ. 

Chúa Bầu khởi nghiệp là do được lòng dân. Sau biết nương nhờ thời thế mạnh yếu từng lúc khác nhau của các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Mạc mà gầy dựng thanh thế, xây dựng giang sơn riêng cho mình. Nhưng sau, đến đời Chúa Bầu [Đô đốc thiêm sự Khoan Quận Công] Vũ Công Tuấn (1669 – 1699), vì vừa chống đối nhà Trịnh, không theo nghĩa phù Lê lại còn ra sức cướp bóc nhân dân mà bao đời nay theo họ Vũ, nên cuối cùng bị triều đình nhà Lê bắt giết năm 1699. 

Vậy nên câu nói “Vua, là thuyền vậy; dân là nước vậy. Nước có thể chở thuyền, cũng có thế lật thuyền” ngẫm thấy đúng hơn bao giờ hết.

Dòng họ Vũ hùng cứ gần 200 năm ở đất Tuyên Quang là do lòng dân Tuyên Quang tin theo. Vì không biết nương theo sức dân mà gây dựng cơ nghiệp, nếu đổi lại thì biết đâu họ Vũ chẳng thành một họ hoàng triều? Nhưng lịch sử phát triển là thế, thể chế nào không chăm lo cho dân, tàn ác với dân, không lấy dân làm gốc, thì sớm muộn cũng đến ngày tàn diệt.


Hùng Vương hay vua Hùng, là tên hiệu các vị thủ lĩnh tối cao của nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt. Theo truyền thuyết, các vua này là hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Các Ngài cũng chính là Tổ tiên của người Việt Nam hiện đại.

Ngày Giỗ tổ Hùng Vương hay Lễ hội Đền Hùng là một ngày lễ của Việt Nam nhằm kính nhớ đến các Vua Hùng. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc Kinh tưởng nhớ công lao dựng nước của Hùng Vương. Nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhưng được dân Việt trong cũng như ngoài nước đều kỷ niệm.

Ngày giỗ Hùng Vương từ lâu đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam. Từ thời xưa, các triều đại quân chủ và phong kiến Việt Nam đã quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch; đổi lại dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng cùng sưu dịch và sung vào lính.

Sang thế kỷ 20, năm 1917 triều vua Khải Định, Bộ Lễ chính thức gửi công văn ghi ngày 25 Tháng 7 phái quan hàng tỉnh của tỉnh Phú Thọ lấy ngày mồng 10 Tháng 3 âm lịch thì cử hành "quốc tế" hàng năm, tức là sức cho các quan phải mặc phẩm phục lên đền Hùng thay mặt triều đình Huế cúng tế.

Ngày 10 Tháng 3 từ đó được dùng cho toàn quốc. Khi nền quân chủ cáo chung thì ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được Việt Nam Cộng hòa công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức cho đến năm 1975.

Đối với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì năm 2007 mới chính thức quy định ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.

UNESCO đã công nhận "Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng" là "kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đại diện của nhân loại".

Trong dân gian Việt Nam có câu lục bát lưu truyền từ xa xưa:

Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca,
Nước non vẫn nước non này ngàn năm.

Hình tượng các Vua Hùng là biểu trưng thiêng liêng của lòng tự hào, tự tôn dân tộc nơi mỗi con người Việt Nam. Sông có nguồn, cây có cội và người Việt có gốc tích Cha Rồng, Mẹ Tiên cùng Quốc Tổ Hùng Vương. Nhớ về Quốc Tổ, mỗi người Việt Nam thêm tự hào về cội nguồn của mình và gắng sức giữ gìn nguồn cội quốc gia trường tồn cho đến muôn đời sau.

Video clip hoạt hình thú vị về công đức các Vua Hùng:
https://www.youtube.com/watch?v=OZcyy5oRp0U

Chúc các bạn những ngày nghỉ Giỗ Tổ vui vẻ và hạnh phúc!

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.