Articles by "dien-an"

Hiển thị các bài đăng có nhãn dien-an. Hiển thị tất cả bài đăng


1.1 Kế hoạch xét hỏi
Hỏi người bị kiện 
- Ông cho biết căn cứ pháp lý để ban hành QĐ 643 ngày 19 tháng 5 năm 2013 về việc cấp đất cho ông Hoàng Văn Tuấn là gì?
- Đất được cấp cho ông Hoàng Văn Tuấn có đang tranh chấp hay không?
- Ông cho biết thẩm quyền cấp đất dành cho hộ gia đình là của ai?
- Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền cấp đất cho hộ gia đình hay không?
- Giấy chứng nhận số 94/CN ngày 01/7/1992 là cấp nhà hay cấp đất cho ông Hoàng Văn Ngọc.
- Ông cho biết nếu người đã qua đời không để lại di chúc, thì tài sản được phân chia theo quy định của pháp luật là đúng hay sai?
- Nếu nhiều người đồng thừa kế cùng ủy quyền cho một người thừa kế, thì phải có xác nhận của tất cả các người đồng thừa kế là đúng hay sai?

Hỏi người liên quan:
- Ông cho biết, đất ông đang sử dụng có nguồn gốc từ năm 1992 đúng hay sai?
- Đất này do nông trường Thanh Khê cấp cho ông theo diện kinh tế mới đúng hay sai?
- Vậy đất ông đang sử dụng là do nông trường Thanh Khê cấp cho cha ông là Hoàng Văn Ngọc theo diện kinh tế mới là đúng hay sai?
- Khi tiến hành xin cấp GCNQSDD với cơ quan Nhà nước, đất ông đang sử dụng có tranh chấp với ai hay không?
- Ông cho biết cha ông và bà nội của ông qua đời vào năm nào?
- Trước khi qua đời, cha ông có để lại di chúc hay không?
- Ông có bao nhiêu anh chị em và mẹ ông hiện đang ở đâu?
- Khi đứng tên nhận thừa kế, ông có được các anh chị em và mẹ ông cùng ký xác nhận để ông được nhận toàn bộ thừa kế hay không?
- Bà nội của ông là bà Lê Thị Khuyên có ký xác nhận để ông được nhận toàn bộ thừa kế hay không?
- Trước năm 1992 bà Ngoan sinh sống tại đâu? Với ai?
- Trước năm 1992, ông nội của ông là ông Hoàng Văn Bảy có được nông trường Thanh Khê cấp đất theo diện kinh tế mới hay không?
- Đất ông đang sử dụng có phải nguồn gốc do nông trường Thanh Khê cấp cho ông nội của ông hay không?

Hỏi người khởi kiện:
- Bà Thanh cho biết lý do thực hiện đại diện ủy quyền cho bà Hoàng Thị Ngoan?
- Bà Thanh cho biết nguồn gốc đất được cấp cho ông Hoàng Văn Tuấn theo QĐ 643 trên đây là từ đâu mà có?
- Bà biết sự việc sổ hộ khẩu tại căn nhà số 5B/33 ấp 9, xã Thanh Tảo, huyện Bình Đà, TP. H không có tên mẹ bà là Lê Thị Khuyên và em bà là Hoàng Thị Ngoan khi nào?
- Khi biết sự việc trên, bà đã làm gì?
- Trước ngày 19 tháng 5 năm 2013, ấp 9 và UBND xã Thanh Tảo có tổ chức họp mặt các bên để giải quyết tranh chấp đất tại căn nhà 5B/33 trên đây không?
- Khi quyết định khởi kiện ra Tòa, nguyện vọng của bà đối với thửa đất 5B/33 trên đây là gì?

1.2 Bài luận cứ
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, vị đại diện UBND huyện Bình Đà cùng luật sư đồng nghiệp và tất cả mọi người đang có mặt trong khán phòng ngày hôm nay, tôi là Nguyễn A – luật sư thuộc VPLS A., Đoàn luật sư TP. H.

Hôm nay, tôi có mặt trong phiên tòa này vơi tư cách là người bảo vệ cho bà Hoàng Thị Ngoan – người có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng từ QĐ 643/QĐ-UB do UBND huyện Bình Đà ban hành ngày 19 tháng 5 năm 2013 cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Văn Tuấn. Bà Ngoan đã có giấy ủy quyền cho bà Hoàng Thị Thanh – chị ruột, thay mặt bà tham gia phiên Tòa hôm nay.

Dựa trên hồ sơ vụ án, quá trình thẩm vấn công khai tại phiên Tòa, tôi cho rằng có đầy đủ căn cứ pháp lý để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Ngoan và tuyên hủy toàn bộ QĐ 643 trên đây. Sau đây tôi xin trình bày các căn cứ pháp lý này:

Thứ nhất, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành sai thẩm quyền.
Khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai 2003, quy định về thẩm quyền cấp GCNQSDĐ đối với hộ gia đình như sau:

“2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.”

Đối chiếu với QĐ 643, phần xác định thẩm quyền ban hành trong quyết định đã thể hiện người ký ban hành là Phó Chủ tịch ký thay Chủ tịch UBND huyện Bình Đà. Như vậy, căn cứ vào Khoản 2 Điều 52 LĐĐ 2003, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 đã ban hành sai về mặt thẳm quyền.

Thứ hai, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành trái với trình tự cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/5/2013, ông Hoàng Văn Tuấn được UBND huyện Bình Đà cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất tại địa chỉ 5B/31 ấp 9, xã Thanh Tảo, huyện Bình Đà, TP. H. Nhưng trước đó, bà Hoàng Thị Ngoan và bà Lê Thị Khuyên đã có đơn xin giải quyết tranh chấp tại chính thửa đất này. Cụ thể ngày tháng gửi đơn như sau:

Ngày 14/5/2010, bà Hoàng Thị Ngoan gửi “Đơn yêu cầu xin xác nhận chủ quyền đất” đến chính quyền ấp 9, xã Thanh Tảo. Nội dung đơn tại bút lục 31. Đơn này đã được ông trưởng ấp 9 Phạm Tuấn Hợi ký tên xác nhận. Ngoài ra, đơn còn kèm theo sổ hộ khẩu NK4 thể hiện cha mẹ bà Ngoan và bà Ngoan là người có tên trong hộ khẩu này.

Ngày 06/02/2013, bà Lê Thị Khuyên gửi “Đơn yêu cầu” đến UBND xã Thanh Tảo với nội dung xin cấp chủ quyền đất cho con bà là Hoàng Thị Ngoan. Nội dung đơn tại bút lục 32.

Ngày 30/4/2013, bà Hoàng Thị Ngoan gửi “Đơn yêu cầu” đến UBND xã Thanh Tảo với nội dung tương tự như trên. Nội dung đơn tại bút lục 33.

Qua những đơn từ trên đây đã thể hiện thửa đất 5B/31 hiện đang có tranh chấp giữa các bên trong gia đình ông Hoàng Văn Tuấn. 

Căn cứ theo Điểm a Khoản 2 Điều 48 NĐ 181/2004/NĐ-CP hướng đẫn thi hành LĐĐ 2003 quy định về cấp GCNQSDĐ như sau:

“2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện sau:
a) Đất không có tranh chấp;”

Như vậy, vì thửa đất tại địa chỉ 5B/31 ấp 5, xã Thanh Tảo, huyện Bình Đà, TP. H. hiện đang có tranh chấp nên UBND huyện Bình Đà không được phép cấp GCNQSDĐ cho bất cứ ai cho đến khi tranh chấp được giải quyết xong. Do đó, QĐ 643 ngày 19/5/2013 đã được ban hành trái với trình tự cấp GCNQSDĐ theo luật định.

Thứ ba, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành dựa trên căn cứ không chính xác.

Trước tiên, QĐ 643 ban hành dựa trên tờ trình ngày 01/5/2013 của trưởng phòng TN & MT huyện Bình Đà. Nội dung tờ trình cho rằng thửa đất 5B/31 không có tranh chấp là sai so với thực tế, nội dung tranh chấp đã được trình bày ở trên.

Tiếp theo, nội dung tờ trình ghi rằng “đất do nông trường Thanh Khê quản lý cấp cho dân đi kinh tế mới, gia đình Hoàng Văn Ngọc được cấp nhà đất vào năm 1992” dựa vào GCN 94/CN ngày 01/7/1992 do nông trường Thanh Khê cấp là sai về mặt nội dung căn cứ. Tại bút lục số 19 thể hiện nội dung giấy chứng nhận, ông Hoàng Văn Ngọc là chủ hộ căn nhà số 8 dãy T40 lô 7 (nay là địa chỉ 5B/31) chỉ được cấp ngôi nhà vách lá, không thể hiện nội dung ông Ngọc được cấp đất tại địa chỉ này. Do đó, căn cứ viện dẫn của Trưởng phòng TN & MT huyện Bình Đà là sai về mặt thực tế.

Thứ tư, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành không đúng theo quy định về thừa kế.

Ông Ngọc qua đời ngày 16/5/2010, mẹ ông là bà Lê Thị Khuyên qua đời sau đó 3 năm vào ngày 02/4/2013. Trước khi mất, ông Ngọc không để lại di chúc, do đó toàn bộ tài sản của ông được chia theo pháp luật.

Điểm a Khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Căn cứ vào lời khai của bà Hoàng Thị Thanh tại bút lục 59 và lời trình bày của ông Tuấn tại phiên Tòa hôm nay, ông Ngọc có tất cả 6 người con và vợ ông hiện nay vẫn còn sống, cùng với tại thời điểm ông Ngọc qua đời, mẹ ông là bà Lê Thị Khuyên vẫn còn. Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật trên đây, toàn bộ tài sản của ông phải được chia đều thành 8 phần, bao gồm: 6 người con, 1 người vợ và mẹ ruột. Nếu có sự thay đổi về phân chia thừa kế, phải có đồng ý của tất cả 8 người đồng thừa kế trên đây.

Trong nội dung giấy ủy quyền nhận thừa kế ngày 17/3/2010 cho ông Hoàng Văn Tuấn, chỉ có xác nhận của 3 người là Hoàng Văn Tăng, Hoàng Thị Vân, Hoàng Thị Lệ. Như vậy là còn thiếu 4 người đồng thừa kế. Do đó, nội dung ủy quyền này không hợp lệ, trái với quy định của pháp luật, dẫn đến việc QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 cũng được ban hành trái pháp luật.

Kính thưa HĐXX, dựa vào những phân tích ở trên cùng với các cơ sở pháp lý được viện dẫn, căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 163 Luật TTHC 2010, tôi kính đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Ngoan, tuyên hủy toàn bộ Quyết định 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 do Chủ tịch UBND huyện Bình Đà ban hành.

Trên đây là toàn bộ quan điểm trình bày của tôi, kính mong HĐXX xem xét. Xin trân trọng cảm ơn HĐXX và mọi người đã chú ý lắng nghe!


1.1 Kế hoạch xét hỏi
Hỏi người bị kiện 
- Ông Thành cho biết căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để Thanh tra Sở VHTT-DL G. ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10 tháng 03 năm 2014 đối với bà Nguyễn Thị Tuyết?
- Theo QĐ 23, bà Tuyết đã có hành vi vi phạm gì? Mức xử phạt là bao nhiêu?
- Theo Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23 tháng 12 năm 2013 do Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở VHTT-DL lập, bà Tuyết đã vi phạm về nội dung gì?
- Ông cho biết, vì sao QĐ 23 ban hành ngày 10/3/2014 dựa trên BB 11 ngày 23/12/2013 nhưng lại có nội dung xử phạt khác hoàn toàn?
- Ông cho biết Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm quy định tại Điều 25  Mục II Chương 2 Nghị định 167/2013 ngày 12 tháng 11 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì thẩm quyền xử phạt thuộc về Thanh tra LĐTB-XH hay Thanh tra VHTT-DL?
- Như vậy, ông cho biết hành vi vi phạm trong QĐ 23 thuộc thẩm quyền xử phạt của ai?
- Ông cho biết thời hạn ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với trường hợp của bà Tuyết tối đa bao nhiêu ngày?
- Như vậy, QĐ 23 ban hành ngày 10 tháng 3 năm 2014 đã vượt quá thời hạn xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết kể từ ngày lập biên bản xử lý vi phạm là đúng hay sai?

Hỏi người khởi kiện:
- Bà Tuyết cho biết ngày 23 tháng 12 năm 2013, nhà trọ Hoàng Lan do bà làm chủ đã xảy ra sự việc gì?
- Biên bản 11 ngày 23 tháng 12 năm 2013 do Thanh tra VHTT-DL lập có nội dung như thế nào?
- Nội dung biên bản 11 có đúng với sự việc diễn ra vào tối 23 tháng 12 năm 2013 hay không?
- Bà nhận được QĐ 23 ngày 10 tháng 3 năm 2014 vào ngày tháng năm nào?
- Nội dung xử phạt trong QĐ 23 là gì?
- Bà Tuyết khẳng định cho HĐXX biết bà có hành vi vi phạm như trong QĐ 23 đã nêu hay không?
- Bà giải thích như thế nào đối với trường hợp bà Nguyễn Thị Lành không được ghi tên vào sổ đăng ký của nhà trọ Hoàng Lan?
- QĐ 23 đã gây ra những ảnh hưởng như thế nào cho công việc và cuộc sống của bà?
- Trong phiên tòa này, bà mong muốn HĐXX làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bà?

1.2 Bài luận cứ
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, vị đại diện Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao – Du lịch tỉnh P. cùng luật sư đồng nghiệp và tất cả mọi người đang có mặt trong khán phòng ngày hôm nay, tôi là Nguyễn A – luật sư thuộc VPLS A., Đoàn luật sư tỉnh G.

Hôm nay, tôi có mặt trong phiên tòa này vơi tư cách là người bảo vệ cho quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của bà Nguyễn Thị Tuyết – là người bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10 tháng 3 năm 2014 do Chánh thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. ký quyết định ban hành. Quyết định số 23 đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của bà Tuyết, đã xử phạt bà Tuyết lỗi phạt mà bà Tuyết không hề vi phạm,  do đó bà Tuyết đề nghị quý Tòa tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 23 trên đây.

Quyết định số 23 trên đây được ban hành dựa trên Biên bản xử lý vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23 tháng 12 năm 2013 do Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. lập lúc 21g10’ cùng ngày đối với hoạt động bị cho là vi phạm hành chính của bà Tuyết trong quá trình quản lý cơ sở kinh doanh của mình là nhà trọ Hoàng Lan. Sự việc được tóm tắt ngắn gọn như sau:

Vào thời điểm ban tối khi Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra nhà nghỉ Hoàng Lan, tại phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành đang có quan hệ vợ chồng với nhau, trong đó bà Nguyễn Thị Lành không được chủ cơ sở nhà nghỉ Hoàng Lan ghi tên vào sổ lưu trú của cơ sở. Tiếp theo, khi kiểm tra tại phòng số 9 thì bắt gặp ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy đang cùng nằm xem tivi. Trên cơ sở kiểm tra hai phòng này, Đoàn kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính số 11 đối với bà Tuyết. Trong Biên bản số 11 này, Đoàn kiểm tra chỉ kết luận “chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên.”

Vậy mà trong QĐ số 23 ban hành hơn 2 tháng sau ngày lập Biên bản số 11, Chánh thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. lại xử phạt bà Tuyết về tội (xin được trích dẫn nguyên văn): “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở  kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” với mức phạt 15.000.000 đồng căn cứ vào Khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013/NĐ-CP. Như vậy, có thể thấy rằng Quyết định 23 này đã xử phạt bà Tuyết một lỗi vi phạm mà bà không hề thực hiện và Biên bản số 11 xử lý vi phạm ngày 23/12/2013 không hề đề cập đến.

Ngoài nội dung không đúng với thực tế sự việc đã diễn ra, Quyết định 23 còn vi phạm nghiêm trọng các quy định về thẩm quyền, căn cứ pháp lý và thời hiệu xử phạt. Đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết, tôi xin đề nghị HĐXX tuyên hủy toàn bộ Quyết định 23 vì những lý do sau:

1. Quyết định 23 ban hành dựa trên Biên bản 11 nhưng Biên bản 11 lại căn cứ vào Nghị định 158/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, hoàn toàn không quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh ngành nghề có điều kiện.

2. Biên bản số 11 không kết luận bà Tuyết có hành vi thiếu trách nhiệm để người khác lợi dụng thực hiện việc mua bán dâm nhưng Quyết định 23 lại xử lý vi phạm hành chính đối với bà Tuyết về hành vi này.

3. Căn cứ vào Điều 58 Luật XLVPHC 2012, Biên bản làm việc số 11 ngày 9/3/2014 tại trụ sở Sở VHTT-DL tỉnh G. chỉ được lập 01 bản và cho rằng bà Tuyết đã ký tên thừa nhận hành vi như QĐ 23 nêu ra là không có giá trị pháp lý vì đây không phải biên bản vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, phải được lập tại thời điểm và tại nơi xảy ra vi phạm và lập thành ít nhất 02 bản có giá trị pháp lý như nhau. Do đó, Biên bản làm việc số 11 ngày 9/3/2014 tại trụ sở Sở VHTT-DL tỉnh G không có giá trị pháp lý làm chứng cứ trong phiên tòa ngày hôm nay.

4. Căn cứ Điểm e Khoản 2 Điều 6 TT 33/2010 ngày 05/10/2010 của Bộ Công an, ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành lưu trú tại phòng số 11 và ông Phan Văn cùng bà Nguyễn Thị Thùy tại phòng số 9 không bắt buộc phải xuất trình giấy đăng ký kết hôn khi vào nhà trọ.

5. Tất cả các đôi lưu trú tại phòng 9 và 11 trên đều có bản tường trình ngay sau khi Đoàn kiểm tra kiểm tra và có đầy đủ thông tin cá nhân của từng người, hoàn toàn không có việc mua bán dâm như QĐ 23 đề cập.

6. Bà Tuyết đề nghị được nộp phạt khung thấp nhất vì bà Tuyết thừa nhận mình sai trong việc không ghi tên bà Nguyễn Thị Lành vào sổ quản lý như quy định, nên  chấp nhận chịu xử phạt đúng với lỗi vi phạm và xin xử phạt ở mức thấp nhất, bà Tuyết không hề thừa nhận mình có hành vi thiếu trách nhiệm để người khác lợi dụng thực hiện mua bán dâm như QĐ 23 đã khẳng định.

7. Căn cứ vào Điều 66 Luật XLVPHC năm 2012 về “Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, kể từ thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan ngày 23/12/2013 đến ngày ra Quyết định xử phạt hành chính ngày 10/3/2014 là 77 ngày, tức đã vượt quá thời hạn 60 ngày ra Quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật.

8. Và quan trọng hơn hết, căn cứ Điều 69 NĐ 167/2013 ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về Thẩm quyền xử phạt hành chính của Thanh tra, Quản lý thị trường thì nội dung xử phạt của Quyết định 23 thuộc thẩm quyền ban hành của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội, không phải thẩm quyền của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Kính thưa Qúy Tòa, bà Tuyết thừa nhận mình đã có sai sót khi không ghi tên khách lưu trú theo quy định và sẵn sàng chịu mọi hình thức chế tài đúng pháp luật. Tuy nhiên, Quyết định 23 đã căn cứ vào hành vi mà bà Tuyết không hề thực hiện để xử phạt, qua đó gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết. Đồng thời, Quyết định 23 đã được ban hành trái thẩm quyền, vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì vậy, cùng với những phân tích ở trên, căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 163 Luật TTHC 2010, kính đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy toàn bộ Quyết định 23 ngày 10/3/2014 do Chánh Thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. ban hành.

Trên đây là toàn bộ quan điểm trình bày của tôi, kính mong HĐXX xem xét để thân chủ tôi là bà Nguyễn Thị Tuyết được đảm bảo mọi quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng của mình theo quy định của pháp luật.

Xin trân trọng cảm ơn!

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.