Articles by "Su-kien-sv"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Su-kien-sv. Hiển thị tất cả bài đăng

Từ lâu tôi luôn tự hỏi, vì sao những bài hát về truyền thống lịch sử, tinh thần dân tộc của người Trung Quốc lại hay, hào hùng và thậm chí bi hùng mà vẫn cực hay như thế? Còn Việt Nam chúng ta, vẫn nhiều những bài hát về lịch sử, truyền thống dân tộc hay lắm, nhưng có vẻ ít và không có những tiết tấu hào hùng, bi hùng so sánh ngang được với họ, tại sao lại như thế?

Đêm qua, khi xem những bài hát bolero, tôi đã tự tìm thấy cho mình câu trả lời.

Lịch sử của người Trung Quốc là lịch sử của chủ nghĩa dân tộc tộc đại Hán, là lịch sử bành trướng bờ cõi về bốn phía Đông – Tây – Nam – Bắc của người Hán. Chính từ lịch sử dân tộc đó, đã hình thành nên những nét văn hóa dành riêng cho sức mạnh, đao kiếm và chiến trường. Những bài hát về Nhạc Phi – người anh hùng dân tộc chống Nguyên của người Hán, thật bi hùng như một thời kỳ đen tối lúc bấy giờ của người Hán. Hay những bài ca về tình huynh đệ của “108 anh hùng Lương Sơn Bạc, những bài ca của thời quốc gia đại loạn ca ngợi tình anh em, chủ tướng, vợ chồng trong “Tam quốc diễn nghĩa”, “Xuân Thu chiến quốc”, “Hán Sở tranh hùng”, hay những bộ phim thời kỳ thế kỷ XIX –XX… đều nêu lên một khát vọng Trung Hoa nam nhi tự cường, tự lấy sức mình mà bình định quốc gia. Dĩ nhiên, tất cả phải bằng một điệp khúc: nuôi chí, tỏ tài, tụ người, đánh trận và huy hoàng hoặc bi hùng.

Tất cả những giá trị truyền thống văn hóa chiến trường từ khi lập quốc mấy ngàn năm trước công nguyên đó đã tạo ra những ca từ hào hùng, kỳ vĩ trong những bài hát ca ngợi chủ nghĩa dân tộc của người Trung Quốc.

Nhưng còn với người Việt Nam, dân tộc chúng ta dường như có những nét văn hóa trái ngược hoàn toàn với “truyền thống văn hóa chiến trường” của người Trung Quốc.

Người Việt Nam nếu theo Sử ký, đến nay cũng trên dưới 6.000 năm truyền đời, còn theo lịch sử cũng trên dưới 3 – 4.000 năm. Một quãng thời gian lâu dài để xây dựng những giá trị truyền thống văn hóa tinh hoa của dân tộc. Nhưng đau buồn thay, trong lịch sử dân tộc ngàn năm đó, người Việt đã hơn 1.000 năm phải sống dưới ách nô lệ, đồng hóa tàn bạo, khủng khiếp của người Trung Quốc. Đến năm 938 thì giành lại độc lập tự chủ đến hôm nay, nhưng rồi cũng phải sống trong loạn lạc, chia ly, chiến tranh xâm lược, chiến tranh nội chiến mà triều đại nào cũng có. Bởi thế, từ dòng lịch sử đau thương của nội chiến và chiến tranh, sâu thẳm trong tâm thức của mỗi người dân Việt là niềm ao ước, khát khao về hòa bình, hạnh phúc và tự do. Những bộ phim “Ngọn nến Hoàng cung”, “Bình Tây đại nguyên soái”, “Trần Thủ Độ”, “Đêm hội Long Trì”, “Ván bài lật ngửa”… ai ai cũng nhận ra những ca từ nhẹ nhàng, khao khát của những giá trị văn hóa hòa bình đích thực.

Từ những khao khát cháy bỏng trong lòng người dân Việt đó, những bài tình ca của mỗi vùng miền đã trổ sinh và truyền đời qua ngàn năm lập quốc từ huyền sử đến nay. Từ Câu hò vĩ dạ, Điệu hò sông Mã, Quan họ Bắc Ninh đến Lý, Hò miền Nam cùng những ca từ Mẹ, Cha, Anh, Em, Bậu, Dì, Mạ, Cậu, Chú… đã tạo nên những giá trị văn hóa đặc trưng của người Việt: nhẹ nhàng, đằm thắm, yêu quê hương, yêu hòa bình, khao khát tự do, khao khát hạnh phúc và ước mong một cuộc đời không lửa khói…


Những ca từ của dân tộc hòa bình đó đã đối lập hoàn toàn với những ca từ mang giá trị truyền thống văn hóa chiến trường của người Trung Quốc. Như suốt mấy ngàn năm qua, khi những binh đoàn người Hán cuồn cuồn lửa cháy, phong ba sang xâm lược đất nước chúng ta, thì dân tộc Việt lại nhẹ nhàng, đằm thắm, oai hùng và kiên cường đánh lui tất cả mọi cuộc xâm lăng. Để rồi ngàn đời nay, một chân lý trường tồn và vĩnh cửu vẫn tồn tại bất khuất với thời gian:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách Trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Vì thế, dân tộc Việt Nam này đã tồn tại bằng những bài ca như nhịp điệu bolero tôi vẫn hằng nghe…

Cụ Ngáo là một đao phủ khét tiếng thời Nguyễn mà tất thảy trẻ con khi bị dọa đều khiếp vía.

“Cụ Ngáo” là nhân vật bí hiểm, sống đơn độc bằng nghề chặt đầu tử, gắn với địa danh “cống chém” An Hòa.
 
Ở Huế, nhiều bậc phụ huynh thường lấy cái tên “cụ Ngáo” ra để dọa trẻ con đang khóc hoặc không nghe lời. Vậy đây là nhân vật có thật hay chỉ là nhân vật hư câu?
 
Sự tích "Cụ Ngáo"
 
Theo tìm hiểu của PV VTC News, Cụ Ngáo là nhân vật có thật và là một đao phủ khét tiếng thời Nguyễn. “Cụ Ngáo” từng hạ đao lấy đi sinh mạng của nhiều tử tù. Danh của đao phủ này gắn liền với địa danh cống chém An Hòa và cồn Mả Thí (nay thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế).
 
Là nhân vật có thực nhưng “cụ Ngáo” không được sử sách ghi chép lại nhiều. Cũng không ai rõ tên thật của “cụ Ngáo” là gì? Là ai? Sinh sống ở đâu?. Bởi, “cụ Ngáo” không gia đình, không người thân thích sống bằng nghề “chặt đầu” khi còn trẻ và bán thịt chó lúc già.
 
Ở mảnh đất được mệnh danh là “kinh đô Phật giáo” với 70% dân số theo đạo Phật như Huế thì hai nghề này khó được mọi người chấp nhận. Cuộc đời của nhân vật này chỉ được nhà thờ Tố Hữu (quê ở Huế) miêu tả ngắn gọn trong bài thơ “Hỏi cụ Ngáo”:
 
“Nghe nói ngày xưa lão chặt đầu,
Đầu xanh, đầu bạc tội gì đâu?
Sao không chặt hết đầu bao đứa,
Mũ mão rồng nay, áo phượng chầu?
Nay lão vác tròng đi thịt chó,
Chó vàng, chó mực tội gì đâu?
Sao không chặt hết bao con đó,
Lém gót giày Tây, béo mượt đâu?”
 
nhân vật bí hiểm, không gốc tích, không tướng mạo, chân dung rõ ràng, nhưng lại là người không ai không biết, bởi mỗi lần dọa trẻ con, người lớn vẫn thường lôi danh “cụ Ngáo” ra dọa. Thế nên, trong tâm hồn thơ dại, nhiều đứa trẻ đã biết đến tên “cụ Ngáo”.
 
Tìm hiểu tù các bậc cao niên nhất xứ Huế được biết, “cụ Ngáo” có nhà ở ngay dưới Thượng Thành, đường Tôn Nhơn xưa.
 
Ly ky chuyen dao phu khet tieng trieu Nguyen
Một đao phủ thời Nguyễn (nguồn: Internet).
Có người nói, mỗi ngày “cụ” rời nhà khi còn tinh mơ và trở về khi mặt trời đã tắt, không ai biết “cụ” đi đâu, làm gì cả ngày hôm đó. Chỉ biết đều đặn mỗi ngày hai lượt, lũ chó ở đường Tôn Nhơn có hai lần sủa inh ỏi khi “cụ Ngáo” đi và về. Chúng sủa bởi chúng vừa sợ hãi vừa tức tối căm thù cái mùi “tử khí” toát ra từ con người “cụ”.
 
Nhưng có người tỉ mẫn hơn, theo dõi và biết được cụ cả ngày đi bắt chó chạy rong ngoài đường, chiều ghé bến Thương Bạc (khi ấy còn hoang vu lau lách, chứ chưa xa hoa phố thị như hiện tại) để làm thịt.
Khi tất cả sạch sẽ, cụ treo lủng lẳng con chó trắng phau sau lưng, băng qua cửa Thượng Tứ, theo đường Tôn Nhơn trở về nhà trong màn đêm nhá nhem.
 
Ăn thịt và làm thịt chó bán nên người cụ nặng mùi, bởi thế, cụ đi đến đâu, lũ chó cũng chạy theo khinh nhờn sủa vang trời. Lũ trẻ con trong Thành Nội ngày đó đặt cả vè, vừa chạy theo vừa đọc: “Xách bót tờ phơi/Đi chơi cụ Ngáo/Ăn cháo không tiền/Cởi liền áo ra…”
 
Nhà Nghiên cứu Huế Hồ Tấn Phan kể, trong các câu chuyện dân gian Huế lưu truyền, “cụ Ngáo” là đao phủ nổi tiếng "chém khéo, chém ngọt". Món nghề làm nên thương hiệu cụ Ngáo là món "chém treo ngành".
 
Để luyện ngón “chém đầu treo ngành”, hàng đêm cụ Ngáo vẫn lên trên vườn chuối trên Thượng Thành luyện chém cho ngọt tay vừa chặt hát “Sống không thù nhau, chết không oán nhau”. Chi tiết này làm cho chúng ta liên tưởng đến nhân vật Bát Lê trong “Chém treo ngành” in trong tập “Vang bóng một thời” của nhà văn Nguyễn Tuân.
 
Mỗi khi chính quyền Pháp thuê cụ ra pháp trường Cống Chém An Hòa để chém đầu tử tội, cụ thường ăn vận áo quần bóng bẩy, thắt đai đỏ ngang hông, tuốt gươm sáng loáng.
 
Sau khi chém đầu phạm nhân, tối, “cụ Ngáo” lại biện một lễ cau trầu rượu xuống miếu Âm Hồn ở ngã tư Anh Danh để xá tội.
 
Bị báo ứng, cuối đời "Cụ Ngáo" điên loạn?
 
Về cuối đời, cụ Ngáo sống trong điên loạn. Trong mắt nhiều người ở Huế, “cụ Ngáo” là một nhân vật vừa đáng thương, vừa đáng sợ, vừa đáng khinh.
 
Nghề của cụ Ngáo dẫn đến việc điên loạn cuối đời là không lạ. Suy cho cùng, cụ chỉ Ngáo đáng thương còn đáng sợ và đáng khinh phải là những kẻ gây nên các tội ác và những kẻ lạm dụng quyền lực, bày đặt nhân danh công lý để trừng phạt những oan sai.
 
Người Anh có thành ngữ “Hangman’s wages” (đồng lương của người treo cổ) để nhắc đến đồng lương cao vợi của đao phủ. Còn cụ Ngáo, chắc đồng lương của cụ cũng chẳng được bao nhiêu nên phải sống ngắc ngoải lúc về già bằng nghề thịt chó.
 
Một người cao niên ở xứ Huế có biết về danh "cụ Ngáo" bình luận: “Hạng người đó quá khổ, làm ngày mô ăn ngày nớ, cực chẳng đã mới đi chém người chứ ai ưng".
 
“Chỗ ni linh thiêng lắm, đi qua đây đừng nói chuyện, đừng ngó ngang ngó dọc, cúi mặt mà đi nghe con”.
Đó là câu nói mà các bà cao tuổi xứ Huế vẫn thường căn dặn con cháu khi đi qua vùng cống chém um tùm cỏ dại, hoang liêu lau lách xưa thuộc xã Hương Cần, huyện Hương Trà nay thuộc Phường An Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tìm hiểu ra được biết, chỗ này xưa là pháp trường, chôn nhiều tử tội, lắm oan hồn.
 
Một người cao tuổi sống gần cống An Hòa kể: “Già rồi lẩn thẩn nhớ nhớ quên quên, nhưng mà có mấy chuyện không thể quên được. Cậu thấy bụi tre nớ không, xưa chừ không ai dám phá đó cậu, bởi sau khi xử trảm tử tội, chính quyền ngày xưa cho bêu đầu lên đọt tre để răn chúng. 
 
“Khu vực Cống Chém ngày nay khác xưa lắm rồi, bãi đất hoang với mênh mông nghĩa địa giờ đã mọc lên nhà xưởng, cây xăng, lớp lớp nhà ở và cả cái cống tròn xây bằng gạch xưa giờ cũng phủ bê tông nhựa dày cả mấy mét.
 
Một số tài liệu nói, Huế xưa có bốn pháp trường: Cống Chém, An Hòa, Bãi Dâu, Giáo họ Thợ Đúc.
Nhắc đến pháp trường Cống Chém có ý phân biệt với pháp trường An Hòa (Chợ An Hòa xưa và Trường tiểu học An Hòa ngày nay).
 
Tuy nhiên, theo tác giả Hồ Đăng Thanh Ngọc, trong bài nghiên cứu “Huyền sử cống chém” nói các tài liệu này chưa chắc đúng bởi, bởi khu vực Cống Chém và chợ An Hòa xưa nay vốn chỉ cách nhau vài trăm mét.
 
Ly ky chuyen dao phu khet tieng trieu Nguyen-Hinh-2
Khu vực cống An Hòa ngày nay. (Ảnh: Lê Công Thành).

Có khi, việc xử tử còn tùy tiện tiến hành ngay tại khu vực đầu cầu An Hòa, như trường hợp xử Chân phước Micae Hồ Đình Huy ngày 22/5/1857, một đại quan của triều đình Tự Đức can tội truyền đạo trong cái thời bế quan tỏa cảng.
 
Vậy nên, một số nhà nghiên cứu cho rằng, có thể xác định pháp trường Cống Chém chạy dọc từ đầu cầu An Hòa đến Trường tiểu học An Hòa nay, tức chợ An Hòa xưa.
 
Tuy nhiên, chưa ai xác định pháp trường Cống Chém có từ khi nào. Có người bảo trong “Suvernir de Annam của Baille” có một đoạn tả cảnh tử tội đưa ra pháp trường.
 
Lục tìm trong y văn của J.B.Roux nhắc đến pháp trường Cống Chém ngày 28/11/1835, triều Nguyễn tiến hành xử trảm Chân phước Anree Trông cũng vì can tội truyền đạo. Như vậy, có thể Cống Chém đã hình thành từ trước đó nữa, để triều Nguyễn ra oai, thiết nghi quyền lực.
 
Các trang viết hiện tồn ghi nhận ở Cống Chém ngày xưa, có hai hình thức xử trảm: Chém đầu và xử giảo (thắt cổ bằng dây thừng). Đây cũng là nơi hai nhà cách mạng Trần Cao Vân và Thái Phiên bị trảm quyết.
Theo VTC News
 

(Kiến Thức) - Để phát hiện và sử dụng nhân tài, hai phương thức chính được các triều đình phong kiến Việt Nam là tiến cử hoặc bảo cử và thi cử.

Những ngày này, cử tri cả nước đang háo hức chào đón ngày hội bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV của đất nước. Trong không khí chào đón ngày trọng đại này, cùng quay ngược thời gian tìm hiểu quy trình tiến cử, tuyển chọn nhân tài trong các triều đại phong kiến Việt. 
Tuyển chọn quan lại theo cách nào?
Thời phong kiến, ngôi vua là cha truyền con nối nên dẫn đến trong việc tuyển quan lại có thể lệ tập ấm, tức là các con cái quan lại thì có suất để được bổ nhiệm làm quan, mà không phải qua thi cử. Học giả Đào Duy Anh, trong cuốn "Việt Nam văn hóa sử cương", đã tóm tắt về chế độ tập ấm như sau: Các triều Lý, Trần, Lê vẫn có lệ thừa ấm, hễ con các quan thì lại được bổ làm quan. Ở triều Lê vẫn có lệ thừa ấm, có khoa nhiệm tử, cốt lấy con các quan mà bổ dụng.
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet
 Ảnh minh họa.
Triều Nguyễn cũng có lệ tập ấm, phàm quan chính nhất phẩm thì còn được tập ấm theo hàng tùng lục, gọi là ấm thọ, đó là bậc cao nhất; còn bậc thấp nhất thì các quan tùng ngũ được một người con tập ấm gọi là ấm sinh. Tuy nhiên, phép thế tập ở nước ta không giống như phép thế tập của quý tộc các nước châu Âu, vì lệ tập ấm chỉ hưởng được một hai đời... Ngoài chế độ khoa cử đặt từ triều Lý thì các triều Lý, Lê lại có phép tiến cử và phép bảo cử, phàm các quan to ai cũng phải cử một người có tài đức hoặc người có danh vọng để triều đình bổ dụng.
Tuy nhiên, chế độ tập ấm ở Việt Nam thời phong kiến chỉ có tính chất như một phần thưởng để động viên quan lại, chứ không phải nguồn chính để tuyển dụng người vào bộ máy nhà nước. Để phát hiện và sử dụng nhân tài, hai phương thức chính là tiến cử hoặc bảo cử và thi cử. 
Chế độ tiến cử và bảo cử thực chất là tương tự như nhau chỉ khác chút ít về hình thức. Trong đó, người tiến cử hoặc bảo cử phải là một vị quan đương nhiệm, còn người được tiến cử hoặc bảo cử thì có thể đang là quan hoặc chưa là quan. Nếu đang là quan thì thường được giới thiệu vào những vị trí cao hơn hoặc việc quan trọng đang khuyết người làm còn nếu là dân thường thì phải là người có thực tài, có đạo đức chói sáng và khi được tiến cử lên, bộ Lại và nhà vua sẽ xem xét tùy tài mà sử dụng. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-2
 Tranh minh họa vua Lê Thánh Tông.
Đến thời Lê Thánh Tông, việc tiến cử hay bảo cử này cũng được quản lý chặt chẽ bằng luật. Điều 174 của Bộ Quốc triều hình luật quy định: những người làm nhiệm vụ cử người, mà không cử được người giỏi thì bị biếm hoặc bị phạt theo luật nặng nhẹ, nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì bị xử nặng thêm hai bậc.
Trong ba con đường vào quan trường thời phong kiến thì chế độ khoa cử là chủ yếu nhất và rộng rãi nhất. Theo từ điển Bách khoa tri thức, chế độ khoa cử bắt đầu từ năm 1075 đời vua Lý Nhân Tông. Khoa thi cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ năm 1915 và Trung Kỳ năm 1918 triều Khải Định nhà Nguyễn. Mỗi khoa thi thời phong kiến gồm 3 cấp là: Thi Hương, thi Hội và thi Đình. 
Thi Hương là thi ở các địa phương. Thi Hội là về kinh đô. Sau khi đỗ thi Hội thì được vào sân rồng của vua thi với đề bài có thể do đích thân vua soạn. Nội dung các đề thi thường là hỏi về ý nghĩa kinh sách Nho giáo, thi làm thơ phú, trình bày quan điểm về đạo trị nước... Những người đỗ thi Hội trở lên được gọi là Tiến sĩ và có thể được bổ dụng các chức quan cao cấp trong triều đình. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-3
 Một cuộc thi Hương ở thành Nam thời Nguyễn. Ảnh tư liệu.
Trong gần 1000 năm đó, đã có hàng ngàn vị Tiến sĩ và hàng chục Trạng Nguyên được ghi danh thể hiện rõ ràng con đường khoa cử là con đường rộng rãi để các sĩ phu bước vào quan trường hành đạo giúp đời.
Bên cạnh ban văn, những người đi theo võ nghiệp muốn bước ra làm tướng, cũng theo ba đường như trên. Một là được tập ấm, hai là được bảo cử tiến cử và ba là thi cử. Lệ thi võ để chọn người làm quan võ, theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, bắt đầu từ năm 1723 dưới thời chúa Trịnh Cương. Chúa Trịnh học theo phép nhà Đường, nhà Tống, hạ lệnh 3 năm tổ chức một khóa thi võ. Các năm Tí Ngọ Mão Dậu thi ở địa phương và các năm Thìn Tuất Sửu Mùi thì thi ở kinh thành. 
Trong khoa thi võ đầu tiên này, đầu đề do chính chúa soạn và chia làm 3 kỳ thi. Kỳ thứ nhất hỏi sơ qua 6 câu về đại nghĩa trong binh pháp Tôn Tử. Kỳ 2 thi cưỡi ngựa múa đâu mâu, bắn cung, lăn khiên, múa kiếm, đấu kích, chạy bộ múa đâu mâu, lại đấu kiếm. Kỳ thứ 3 thi về phương lược đánh trận và một bài thơ đường. Đầu đề do chúa nghĩ soạn.
Trước khi có kỳ thi võ, từ thời Trần đã có Giảng võ đường làm nơi luyện tập võ nghệ binh thư nhưng chỉ giành cho tướng soái và con em quý tộc đến học và chưa có việc thi cử để ra làm quan võ một cách rõ ràng quy củ. Bởi thế thời đó các danh tướng phần lớn là quý tộc hoặc không cũng là gia nô, môn khách của quý tộc. Đó là trường hợp Yết Kiêu, Nguyễn Khoái, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão...
Biện pháp mạnh để quan liêm khiết
Dân gian Việt Nam thường nói “một người làm quan cả họ được nhờ” nhưng trong các thời kỳ phong kiến, các triều đình cũng luôn chú trọng việc đặt ra chế tài để tránh việc các quan lộng quyền và cài cắm người thân thích vào bộ máy. Theo sách "Việt Nam văn hóa sử cương", trong thời phong kiến, các vua chúa đã đặt ra một số quy định để hạn chế các đặc quyền của quan lại
Ví dụ pháp luật cấm quan địa phương không được thụ nhiệm ở tỉnh nhà hay ở nơi cách nhà không đầy 500 dặm để cho thân thích bằng hữu khỏi cậy thế cậy thần mà làm ngang. Cấm quan không được lấy vợ trong trị hạt vì sợ gia đình nhà vợ nhũng nhiễu.
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-4
 Tranh minh họa triều đình nhà Lê.
Cấm không cho tậu ruộng vườn nhà cửa trong trị hạt vì sợ quan hiếp bách kẻ trị hạ để mua rẻ. Cấm không được tư giao với đàn bà con gái ở nơi mình trị hạt để đừng treo gương xấu cho nhân dân. Cấm quan lại khi đã nghỉ hưu không được lui tới cửa công để thỉnh thác cầu cạnh.
Mặt khác, các quan không phải cứ ngồi vào làm quan rồi là ấm chỗ, mà phải tiếp tục phấn đấu để chứng tỏ năng lực nếu tốt thì được thăng chức còn không thì bị giáng chức hoặc cách chức. Trong các triều đại Lý, Trần, việc thăng giáng chức thường chỉ thực hiện khi có công hoặc tội bị phát giác. Nhưng đến triều vua Lê Thánh Tông, nhà vua cho thực hiện chế độ khảo thi và khảo khóa để định kỳ sát hạch quan lại cả về trình độ và tác phong làm việc. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-5
 Sĩ tử xem bảng vàng. Ảnh tư liệu.
Việc khảo thi, đối với quan văn thì thi giải kinh nghĩa các kinh sách Nho giáo, thi làm thơ và trả lời câu hỏi của vua về đạo trị nước. Quan võ thì thi bắn cung, đua ngựa, đấu khiên, đấu gươm, đấu vật, bày trận. Còn khảo khóa là nhận xét, đánh giá năng lực và kết quả công việc của mỗi vị quan. 
Đáng chú ý là việc khảo thi và khảo khóa được tiến hành với cả với các nhân vật con ông cháu cha vốn tiến thân từ con đường tập ấm. Như vậy biện pháp khảo khóa này cũng góp phần sửa chữa các hạn chế của chế độ tập ấm. Nó đòi hỏi các “con ông cháu cha” phải có một trình độ nhất định, làm được việc, nếu không sẽ bị sa thải.
Theo Đại Việt sử ký, tháng 11 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), Vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ về việc cấm để chậm các kỳ khảo khóa trong đó nói: “Phép khảo khóa cốt để phân biệt người hay, kẻ dở, nâng cao hiệu quả trị nước. Đời Đường, Ngu ba năm một kỳ xét công để thăng hạng. Nhà Thanh Chu, ba năm một lần xét việc để định thưởng phạt. Nay nha môn trong ngoài các ngươi, người nào nhậm chức đủ ba năm, phải báo ngay lên quan trên không được để chậm. Nếu quá một trăm ngày mà không kê danh sách gửi thì tính số người chậm, mỗi người chậm thì phạt một quan tiền, kẻ nào theo tình riêng mà dung túng đều phải trị tội cả”.
Thông qua khảo khóa, nhà vua và triều đình sẽ quyết định việc thăng giáng hoặc cách chức quan lại. Năm 1478, vua Thánh Tông nói rõ các quan viên nếu “hèn kém, đần độn bỉ ổi, không làm nổi việc thì đều bắt phải nghỉ việc và chọn người có tài năng, kiến thức, quen thạo công việc mà bổ vào thay”.
Đến năm 1488, vua Lê Thánh Tông chính thức quy định quy trình khảo khóa: “Ba năm tiến hành một lần sơ khảo, sáu năm thì tái khảo và chín năm thì thông khảo mới thi hành thăng chức người có công và truất chức kẻ có tội”. Nội dung và cách thức khảo khóa cũng được quy định là: “Trưởng quan các nha môn trong ngoài khi khảo khoá các quan viên trong phạm vi cai quản thì phải xét kỹ thành tích trong công việc mà viên đó đã làm. Nếu quả có lòng chăm nom, yêu thương, được nhân dân yêu mến và trong nơi cai quản ít kẻ trốn tránh thì mới xứng chức. Nếu vơ vét quấy nhiễu, gây tệ riêng tư và trong nơi cai quản có nhiều người trốn tránh thì không xứng chức”.
Có thể nói, nhờ những biện pháp mạnh đó, triều đại vua Lê Thánh Tông là triều đại cực thịnh trong thời phong kiến ở Việt Nam.
Nam Khánh

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.