Articles by "Danh-nhan-sv"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh-nhan-sv. Hiển thị tất cả bài đăng



Nguyễn Trung Trực (1838–1868) tên thật là Nguyễn Văn Lịch, nhưng vì tính ngay thẳng nên được thầy dạy đặt thêm cho tên Trung Trực. Ông là thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống Pháp vào nửa cuối thế kỷ 19 ở Nam Bộ, Việt Nam.

Ông quê gốc ở Bình Định, sau chạy giặc mà theo gia đình vào Nam và sống ở khu vực Cà Mau hiện nay.
Năm 30 tuổi, Ông bị Pháp bắt và thọ tử tại chợ Rạch Giá, Kiên Giang. Dù sống ngắn ngủi, Ông đã kịp để lại dấu ấn của mình trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bằng hai chiến công đốt tàu Pháp trên sông Nhật Tảo và đánh chiếm đồn Kiên Giang.

Hiện nay, Ông được nhân dân các tỉnh miền Nam thờ kính rất nhiều vì tấm gương trung dũng, kiêu hùng của mình.

Nguyễn Trung Trực là một nhân vật tiêu biểu cho tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta trong buổi giao thời kháng chiến với người Pháp. Bằng những bản tính yêu nước, thương nòi của dân tộc và khí tiết kiêu hùng, Ông đã để lại cho thế hệ con cháu tiếp theo một tấm gương "vì nước quên thân" ngời sáng và lưu truyền đến ngàn năm.

Tương truyền, trước khi bị hành quyết Nguyễn Trung Trực đã ngâm một bài thơ:

Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chang chang chẳng đội trời.
#lichsuvietnam #lichsu #vietnam #yeusuviet #suviet

Tìm hiểu thêm: Wikipedia/Nguyễn Trung Trực 

 Chân dung Nguyễn Trung Trực trong đền thờ tại Phú Quốc, Việt Nam.


Đặng Tất (1357 -1409) quê ở Hà Tĩnh, làm chức châu phán Hóa châu dưới triều nhà Hồ. Nhà Minh xâm chiếm Đại Ngu, họ Hồ thất bại, người Chiêm tiến quân chiếm lại đất cũ Thăng Hoa, Đặng Tất xin với Trương Phụ cho mình cai quản Hóa châu. Trương Phụ cho Đặng Tất làm Đại tri châu Hóa châu, người Chiêm rút binh về.

Khi Trương Phụ dẫn quân về nước, Trần Ngỗi khởi nghĩa, lập ra nhà Hậu Trần, xưng là Giản Định đế, khởi binh ở Ninh Bình. Đặng Tất nghe tin, liền giết quan nhà Minh ở Hóa châu, đem quân ra theo Giản định đế, được phong làm quốc công. Quân Hậu Trần tiến quân ra Bắc, đánh bại Mộc Thạnh ở trận Bô Cô, Mộc Thạnh chạy rút vào thành Cổ Lộng. Giản Định đế muốn tiến binh đuổi gấp, đánh Đông Quan, Đặng Tất chủ trương tiêu diệt những kẻ còn sống sót và bao vây các thành.

Tháng 2 năm 1409, Giản Định đế nghe lời gièm pha, triệu Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đến và giết chết họ.
==//==

Đến tận hôm nay, cái chết của Đặng Tất vẫn còn mang nhiều nỗi niềm và phân giải của hậu thế.

Bước đầu giặc mới sang còn mạnh, còn hung hãn, Đặng Tất biết nhún nhường chờ đợi thời cơ. Khi nghe tin họ Trần khởi nghĩa, ông liền giết quan Minh, kéo binh mã các lộ ở Hóa Châu mà về cùng mưu phục quốc.

Ngay trận đầu tiến quân ra Bắc, Ông đã đánh cho tên tướng Minh Mộc Thạnh một trận thừa sống thiếu chết ở Bô Cô, khiến hắn phải bỏ chạy về Cổ Lộng, ngóng chờ Trương Phụ viện binh từ Đông Quan. Vua muốn tiến, Ông nhìn thấy thế chưa tiến được. Làm trái ý vua vì nghĩa trọn với giang sơn nên cuối cùng bị chính Vua mình thờ hại chết. Nhưng oan nghiệt thay cho cái chết của trung thần là do bọn thái giám gièm pha.

Vậy mới nói, cái chết Đặng Tất hậu thế tiếc thương là một, mà nuốt mật học bài học đoàn kết Vua – Tôi là mười.

Người đã chết rồi, chuyện cũng đã xảy ra nên không thể đoán tính làm sao. Nhưng trong 7 năm mà Nhà Trần tưởng mất lại phục hưng, còn thắng một trận lớn ở Bô Cô thì thế quân, thế nước theo đó mà tiến thì chưa biết 20 năm Bắc thuộc lần IV có xảy ra hay không? Nhưng nghĩ lại, Giản Định Đế Trần Ngỗi không biết lấy việc nước làm trọng, lấy tôn miếu xã tắc làm hơn và lấy con dân làm nhớ mà nghe lời kẻ hoạn quan để giết oan bậc tướng trung dũng đến nối phải chết ở Kim Lăng (Trung Quốc) thì rõ là thời vận nhà Trần cũng đến lúc hết.

Nước ta bao giờ chẳng phải là mồi ngon cho cường quốc. 1.000 năm bắc thuộc, thêm gần 1.000 năm độc lập, chỉ Trung Hoa là mưu đồ đồng hóa nước ta vào nước họ. Sau này có thêm đế quốc, thực dân vào toan tính chuyện của cường quốc, nhưng xuyên suốt vẫn thấy bóng dáng của “thiên triều” Trung Quốc muốn thôn tính và đồng hóa nước ta.

Nên, bài học đoàn kết của 1.000 năm đô hộ, 1.000 năm độc lập vẫn còn đó để nhắc nhở chúng ta và con cháu dòng giống Lạc Việt chúng ta về dã tâm thôn tính đất nước này, dân tộc này của những người lãnh đạo Hán tộc.

Nhưng nếu dân ta đoàn kết, trên dưới một lòng, thì chẳng những dã tâm bành trướng Trung Hoa đời đời không bao giờ thành hiện thực mà đến thiên thu vạn đại Tổ quốc ta vẫn trường tồn. Đó là trách nhiệm viết tiếp và viết mãi lịch sử hào hùng từ Tổ tiên ta cho đến tận thời Con Cháu chúng ta.

Nguồn: https://www.facebook.com/yeusuviet/photos/a.399500773432770.87498.398545340194980/1103246203058220/?type=3&theater


==//==
Năm 1258, quân Mông Cổ tràn vào xâm lược nước ta, “Tháng 9, Trần Thái Tông xuống chiếu, lệnh cho tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới (phía Bắc) theo sự tiết chế của Quốc Tuấn”. Ngày 24/12/1258, quân Trần đập tan tác quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu, chấm dứt cuộc xâm lược Đại Việt.

Năm 1279, quân Mông Cổ thôn tính nhà Nam Tống (Trung Quốc), thành lập nhà Nguyên, mở rộng lãnh thổ đế quốc Mông Cổ đến biên giới Đại Việt.

Năm 1282, Nguyên Mông vượt biển thôn tính Chiêm Thành, làm bàn đạp đánh chiếm Đại Việt.
Năm 1283, Vua Trần Nhân Tông phong Hưng Đạo Vương làm Quốc công Tiết chế, thống lĩnh các lực lượng quân sự - đặt vận mệnh quốc gia trong tay Ngài.

Đầu năm 1285, quân Nguyên Mông lại ào ạt tiến công vào phía bắc và vùng Thanh Hóa-Nghệ An, bắt đầu dã tâm xâm lược.

Thế giặc như vũ bảo, quân Trần như tan vỡ, vua Trần lo lắng cho sinh mệnh con dân, hỏi ý Ông thế nào, Ông khẳng khái: “Bệ hạ chém đầu thân rồi hãy hàng”.

Cuối cùng, tháng 5 năm ấy, Hưng Đạo Vương vạch kế hoạch tổng phản công. Sau một tháng, đã quét sạch quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi, thái tử Thoát Hoan phải chui ống đồng về nước. Cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai chấm dứt.

Năm 1287, quân Nguyên Mông quyết xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Trần Nhân Tông hỏi ông: “Năm nay đánh giặc thế nào?”, Trần Hưng Đạo đáp: “Năm nay đánh giặc nhàn”.

Tháng tư (Âm lịch) năm Mậu Tý 1288, Hưng Đạo Vương dàn hỏa trận trên Bạch Đằng Giang, nhấn chìm toàn bộ binh thuyền của Nguyên Mông bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lệ Cơ. Thoát Hoan lần thứ hai tháo chạy về nước. Đại Việt lần thứ ba đứng vững trước cơn lốc xâm lược của đế quốc Mông Cổ hùng mạnh.

Tháng Tư (âm lịch) năm Kỷ Sửu (1289), luận công ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo được phong tước Hưng Đạo đại vương. Sau đó, ông lui về ở Vạn Kiếp, là nơi ông được phong ấp (nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Nhân dân lúc bấy giờ kính trọng ông, lập đền thờ sống ông ở Vạn Kiếp. Tại đền có bài văn bia của vua Trần Thánh Tông, ví ông với Thượng phụ (tức Khương Tử Nha).

Nguồn: Hội những người YÊU SỬ VIỆT
https://www.facebook.com/yeusuviet/photos/a.399500773432770.87498.398545340194980/1088556954527145/?type=3&permPage=1 


Nữ tướng Bùi Thị Xuân (1771 - 1802) là một trong “Tây Sơn ngũ phụng thư”, là vợ Thái phó Trần Quang Diệu và là một Đô đốc của vương triều Tây Sơn. Bà là người ở thôn Xuân Hòa (nay thuộc thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Ngày 29 tháng 7 năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, vương triều Tây Sơn bắt đầu suy yếu. Trận Trấn Ninh – trận quyết tử chiến cuối cùng của thời kỳ “phân chia đất nước”, Bà đã sống trọn những giây phút khí tiết can trường nhất của người đại tướng cầm quân trong buổi anh tài đất nước như sao đêm rực sáng trời Nam.

Trong trận chiến oanh liệt đó, nữ tướng Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh riết vào lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Phúc Ánh đang cố thủ, từ sáng đến chiều, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp. Rồi bà còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi. Lúc bấy giờ chúa Nguyễn cùng tướng tá đã hốt hoảng vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thoát thân.

Nào ngờ vua Cảnh Thịnh thấy quân Nguyễn tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn liền cho lui binh. Bùi Thị Xuân bèn nắm áo ngự bào của nhà vua để khuyên cố đánh. Nhưng khi nghe tin tướng Nguyễn Văn Trương phá tan thủy binh Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình), cướp được hầu hết tàu thuyền và tướng giữ cửa Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng; thì đội quân của bà hốt hoảng bỏ cả vũ khí, đạn dược để tháo chạy... Đây có thể nói là trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng của bà để hòng cứu vãn tình thế. Nhưng ngờ đâu nhà Tây sơn, sau trận này thêm trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa...

Trong buổi hành hình các đại tướng nhà Tây Sơn, bà đã khẳng khái trả lời vua Gia Long rằng:

“Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà...”
==//==

Trong cuộc chiến Tây Sơn – Triều Nguyễn, hay nói đúng hơn, phải là cuộc chiến Quang Trung – Nguyễn Ánh, chưa khi nào những vị đại tướng cầm quân ngang dọc khắp đất trời Nam lại nhiều và uy dũng, hào hùng, bi hùng như trong thời kỳ này, nữ tướng Bùi Thị Xuân là một trong số những vị đại tướng tiêu biểu đó.

Bà là hiện thân cho khí tiết anh hùng của người nữ nhi trời Nam. Từ Mẹ Âu Cơ bắt đầu huyền thoại Mẹ Tiên đến Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi đánh giặc ngoại xâm, uy hùng giữa trăm ngàn quân giặc và cả những vị công chúa An Tư, Huyền Trân vì đại nghĩa quốc gia mà hy sinh cả cuộc đời, nữ tướng Bùi Thị Xuân đã viết tiếp bản trường ca nữ nhi anh hùng bất tận đó một cách oai hùng và bi hùng nhất.

Nguồn: Hội những người YÊU SỬ VIỆT
https://www.facebook.com/yeusuviet/photos/a.399500773432770.87498.398545340194980/1084164048299769/?type=3&theater 

Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và những dự đoán ứng nghiệm - Ảnh 1

Tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhân dân tôn thờ.

 (ĐSPL) - Cụ Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (SN 1491 - 1585, thọ 94 tuổi), để lại cho hậu thế 487 câu sấm ký gọi là “Sấm Trạng Trình” cách đây đã trên 500 năm. Lạ kỳ là không ít sự kiện lịch sử Việt Nam và thế giới đã xảy ra trong suốt 500 năm qua có không ít điều "ứng” vào các câu ghi trong “Sấm Trạng Trình".

Hoành sơn nhất đái...

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, với tài lý số của mình, không thể phủ nhận được rằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo ra được những kỳ tích cũng như những ẩn số về tài danh của một kỳ nhân mà đến nay hậu thế cũng chưa giải mã hết được. Ngay từ lúc sinh thời, ông đã dùng tài lý số của mình "cứu vãn" cho triều đình nhà Mạc tồn tại được một thời gian khá dài. Dưới thời nhà Mạc, năm 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc Đăng Doanh đưa ông lên làm Tả thị lang Đông các học sỹ.

Nhưng sau khi dâng sớ hạch tội 18 lộng thần không được vua chấp thuận, ông đã cáo quan về ở ẩn. Thời ấy, đất nước đang trong giai đoạn hỗn loạn, có tới ba triều đại cùng tồn tại là nhà Mạc, nhà Nguyễn, nhà Trịnh. Lúc triều nhà Mạc lâm nguy, vua Mạc đương triều mới sai người đến hỏi ông. Ông đã đưa ra lời sấm cho nhà Mạc rằng: "Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô".

Nghĩa là nếu chạy lên Cao Bằng thì sẽ tồn tại được 3 đời. Quả nhiên, nhà Mạc lên Cao Bằng, tồn tại được thêm 3 đời nữa thật. Việc nhà Mạc chạy lên Cao Bằng dựng nghiệp, miền đất Cao Bằng được trấn ải bằng một thế lực phong kiến khiến các triều đại Trung Hoa thời kỳ đó khó xâm phạm nước Việt trong một thời gian dài. Đất Quảng Uyên (tên gọi của đất Cao Bằng xưa) được người Trung Hoa đặc biệt coi trọng bởi nơi đó được cho rằng có nhiều mỏ vàng dễ khai thác.

"An Nam lý số hữu Trình tuyền" - đó là lời sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đưa ra cho nhà Nguyễn. Nhờ đó, nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cõi, đất nước ta có hình thái như ngày hôm nay. Năm 1568, chúa Nguyễn Hoàng khi đó thấy anh mình là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết chết, thấy số phận của mình bị nguy cấp, Nguyễn Hoàng đã sai người đến diện kiến Trạng Trình ở am Bạch Vân để xin lời sấm. Câu chuyện cụ Trạng cầm tay sứ giả dắt ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang bò và bảo: "Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân", nghĩa là một dải Hoành sơn có thể dung thân được. Hiểu được ngầm ý ấy, Nguyễn Hoàng bèn nhờ chị xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào, nhờ đó mà dựng nên nhà Nguyễn ở phương Nam.

Sau này, nhà Nguyễn đã đổi câu sấm của Trạng Trình thành: "Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân" hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp mãi mãi. Việc nhà Nguyễn di chuyển vào vùng Thuận Hóa tạo điều kiện mở rộng bờ cõi nước Việt xuống phía Nam, hình thành địa đồ quốc gia Việt Nam như hiện nay có tầm ảnh hưởng không nhỏ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và những dự đoán ứng nghiệm - Ảnh 2

Khu vườn tượng trong khu di tích Trạng Trình ngày nay.

 Phải giữ được Biển Đông!

Tài tiên tri của cụ được lưu truyền qua nhiều câu sấm ký gọi là "Sấm Trạng Trình". Cụ được xem là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến Quốc hiệu Việt Nam. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ, ngàn bài thơ văn với những giá trị nhân đạo, giàu chất triết lý, đầy tình yêu nước và là kho tàng Minh triết cho muôn đời sau. Ngoài câu sấm ký "Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân", thì với Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri, dạy rằng: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình". Những lời sấm truyền này được ghi rõ trong Bạch Vân Am Thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm với bài thơ Cự Ngao Đới Sơn. Trong đó có câu: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình/Chí những phù nguy xin gắng sức/Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình". Với con mắt chiến lược, nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm, Trạng Trình đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.

Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ càng đọc, càng thấy rất "kim nhật kim thì", rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là để nói cái chí của cụ "Chí những phù nguy xin gắng sức" (Ngã kim dục triển phù nguy lực), nhưng lại đọng trong đó một tư tưởng chiến lược, một dự báo thiên tài: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình/Vạn lý Đông minh quy bả ác/ức niên Nam cực điện long bình".

Trải qua không ít thực tế, chúng ta càng thấy những câu thơ sấm truyền của cụ Trạng mang tính thời sự thức thời đối với người Việt. Hai câu thơ mang tính dự báo chiến lược của cụ Trạng càng khiến lay động từ sâu thẳm ý chí của người Việt về cái tâm thức bám biển, giữ biển của mình. Tự ngàn xưa, người Việt đã là những cư dân sông nước, cư dân của văn hóa biển đảo.

Với kho sấm truyền của cụ Trạng, nhà nghiên cứu, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, người có "duyên" làm bộ phim Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cây đại thụ rợp bóng 500 năm, góp phần giải mã cuộc đời một kỳ nhân nhận định: Những lời sấm còn ứng đúng với hai cục diện trên thế giới. Cục diện thứ nhất là đại chiến thế giới lần thứ II. Đại chiến thế giới khởi đầu từ khi phát xít Đức tấn công Ba Lan, từ năm 1940 đã bắt đầu rục rịch (cuối năm Thìn - Long vĩ) khởi đầu chiến tranh, đến năm 1941 (đầu năm Tỵ - Xà đầu) Hitler tấn công Liên Xô (cũ). Qua cuối năm 1942, giữa năm 1943 (Mã đề dương cước) thì đến năm 1944 - 1945 (Thân Dậu niên lai kiến thái bình) mới qua khỏi nạn chiến tranh. Cục diện thứ hai là cuộc chiến tranh Iraq cũng xảy ra vào cuối năm Thìn (2000), đầu năm Tỵ (2001) rồi kéo dài đến hết năm Thân - Dậu mới ổn.

Tuy nhiên, qua bài viết này vẫn chưa thể giải mã hết những bí ẩn của điều gọi là "Sấm Trạng Trình". Thực tế, cho đến nay vẫn cần sự quan tâm của các nhà khoa học để giải đáp. Cuối cùng, những lời sấm của nhà tiên tri số 1 Việt Nam cũng vẫn quay trở về với ý nghĩa sâu xa như ngay trong lời cảm đề ông đã viết: "Bí truyền cho con cháu - Dành hậu thế xem chơi", mọi ý nghĩa sâu xa hơn vẫn là một câu hỏi lớn.

Nhà tiên tri số 1
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi, đời vua Lê Thánh Tông (tức năm Hồng Đức thứ 22 - năm 1491) tại làng Trung Anh, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương - nay là làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, TP.Hải Phòng. ông sinh trưởng trong một dòng tộc danh gia. Cha ông là Thái Bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định, mẹ là bà Nhữ Thị Thục, tinh thông lý số, là con gái của quan Thượng thư Nhữ Văn Lân. Cụ Trạng mất năm ất Dậu (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được dân gian truyền tụng và suy tôn là nhà tiên tri số 1 của Việt Nam. Người Trung Hoa thì coi ông là "An Nam lý số hữu Trình tuyền".
TRẦN PHƯƠNG
 

(Kiến Thức) - Để phát hiện và sử dụng nhân tài, hai phương thức chính được các triều đình phong kiến Việt Nam là tiến cử hoặc bảo cử và thi cử.

Những ngày này, cử tri cả nước đang háo hức chào đón ngày hội bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV của đất nước. Trong không khí chào đón ngày trọng đại này, cùng quay ngược thời gian tìm hiểu quy trình tiến cử, tuyển chọn nhân tài trong các triều đại phong kiến Việt. 
Tuyển chọn quan lại theo cách nào?
Thời phong kiến, ngôi vua là cha truyền con nối nên dẫn đến trong việc tuyển quan lại có thể lệ tập ấm, tức là các con cái quan lại thì có suất để được bổ nhiệm làm quan, mà không phải qua thi cử. Học giả Đào Duy Anh, trong cuốn "Việt Nam văn hóa sử cương", đã tóm tắt về chế độ tập ấm như sau: Các triều Lý, Trần, Lê vẫn có lệ thừa ấm, hễ con các quan thì lại được bổ làm quan. Ở triều Lê vẫn có lệ thừa ấm, có khoa nhiệm tử, cốt lấy con các quan mà bổ dụng.
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet
 Ảnh minh họa.
Triều Nguyễn cũng có lệ tập ấm, phàm quan chính nhất phẩm thì còn được tập ấm theo hàng tùng lục, gọi là ấm thọ, đó là bậc cao nhất; còn bậc thấp nhất thì các quan tùng ngũ được một người con tập ấm gọi là ấm sinh. Tuy nhiên, phép thế tập ở nước ta không giống như phép thế tập của quý tộc các nước châu Âu, vì lệ tập ấm chỉ hưởng được một hai đời... Ngoài chế độ khoa cử đặt từ triều Lý thì các triều Lý, Lê lại có phép tiến cử và phép bảo cử, phàm các quan to ai cũng phải cử một người có tài đức hoặc người có danh vọng để triều đình bổ dụng.
Tuy nhiên, chế độ tập ấm ở Việt Nam thời phong kiến chỉ có tính chất như một phần thưởng để động viên quan lại, chứ không phải nguồn chính để tuyển dụng người vào bộ máy nhà nước. Để phát hiện và sử dụng nhân tài, hai phương thức chính là tiến cử hoặc bảo cử và thi cử. 
Chế độ tiến cử và bảo cử thực chất là tương tự như nhau chỉ khác chút ít về hình thức. Trong đó, người tiến cử hoặc bảo cử phải là một vị quan đương nhiệm, còn người được tiến cử hoặc bảo cử thì có thể đang là quan hoặc chưa là quan. Nếu đang là quan thì thường được giới thiệu vào những vị trí cao hơn hoặc việc quan trọng đang khuyết người làm còn nếu là dân thường thì phải là người có thực tài, có đạo đức chói sáng và khi được tiến cử lên, bộ Lại và nhà vua sẽ xem xét tùy tài mà sử dụng. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-2
 Tranh minh họa vua Lê Thánh Tông.
Đến thời Lê Thánh Tông, việc tiến cử hay bảo cử này cũng được quản lý chặt chẽ bằng luật. Điều 174 của Bộ Quốc triều hình luật quy định: những người làm nhiệm vụ cử người, mà không cử được người giỏi thì bị biếm hoặc bị phạt theo luật nặng nhẹ, nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì bị xử nặng thêm hai bậc.
Trong ba con đường vào quan trường thời phong kiến thì chế độ khoa cử là chủ yếu nhất và rộng rãi nhất. Theo từ điển Bách khoa tri thức, chế độ khoa cử bắt đầu từ năm 1075 đời vua Lý Nhân Tông. Khoa thi cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ năm 1915 và Trung Kỳ năm 1918 triều Khải Định nhà Nguyễn. Mỗi khoa thi thời phong kiến gồm 3 cấp là: Thi Hương, thi Hội và thi Đình. 
Thi Hương là thi ở các địa phương. Thi Hội là về kinh đô. Sau khi đỗ thi Hội thì được vào sân rồng của vua thi với đề bài có thể do đích thân vua soạn. Nội dung các đề thi thường là hỏi về ý nghĩa kinh sách Nho giáo, thi làm thơ phú, trình bày quan điểm về đạo trị nước... Những người đỗ thi Hội trở lên được gọi là Tiến sĩ và có thể được bổ dụng các chức quan cao cấp trong triều đình. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-3
 Một cuộc thi Hương ở thành Nam thời Nguyễn. Ảnh tư liệu.
Trong gần 1000 năm đó, đã có hàng ngàn vị Tiến sĩ và hàng chục Trạng Nguyên được ghi danh thể hiện rõ ràng con đường khoa cử là con đường rộng rãi để các sĩ phu bước vào quan trường hành đạo giúp đời.
Bên cạnh ban văn, những người đi theo võ nghiệp muốn bước ra làm tướng, cũng theo ba đường như trên. Một là được tập ấm, hai là được bảo cử tiến cử và ba là thi cử. Lệ thi võ để chọn người làm quan võ, theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, bắt đầu từ năm 1723 dưới thời chúa Trịnh Cương. Chúa Trịnh học theo phép nhà Đường, nhà Tống, hạ lệnh 3 năm tổ chức một khóa thi võ. Các năm Tí Ngọ Mão Dậu thi ở địa phương và các năm Thìn Tuất Sửu Mùi thì thi ở kinh thành. 
Trong khoa thi võ đầu tiên này, đầu đề do chính chúa soạn và chia làm 3 kỳ thi. Kỳ thứ nhất hỏi sơ qua 6 câu về đại nghĩa trong binh pháp Tôn Tử. Kỳ 2 thi cưỡi ngựa múa đâu mâu, bắn cung, lăn khiên, múa kiếm, đấu kích, chạy bộ múa đâu mâu, lại đấu kiếm. Kỳ thứ 3 thi về phương lược đánh trận và một bài thơ đường. Đầu đề do chúa nghĩ soạn.
Trước khi có kỳ thi võ, từ thời Trần đã có Giảng võ đường làm nơi luyện tập võ nghệ binh thư nhưng chỉ giành cho tướng soái và con em quý tộc đến học và chưa có việc thi cử để ra làm quan võ một cách rõ ràng quy củ. Bởi thế thời đó các danh tướng phần lớn là quý tộc hoặc không cũng là gia nô, môn khách của quý tộc. Đó là trường hợp Yết Kiêu, Nguyễn Khoái, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão...
Biện pháp mạnh để quan liêm khiết
Dân gian Việt Nam thường nói “một người làm quan cả họ được nhờ” nhưng trong các thời kỳ phong kiến, các triều đình cũng luôn chú trọng việc đặt ra chế tài để tránh việc các quan lộng quyền và cài cắm người thân thích vào bộ máy. Theo sách "Việt Nam văn hóa sử cương", trong thời phong kiến, các vua chúa đã đặt ra một số quy định để hạn chế các đặc quyền của quan lại
Ví dụ pháp luật cấm quan địa phương không được thụ nhiệm ở tỉnh nhà hay ở nơi cách nhà không đầy 500 dặm để cho thân thích bằng hữu khỏi cậy thế cậy thần mà làm ngang. Cấm quan không được lấy vợ trong trị hạt vì sợ gia đình nhà vợ nhũng nhiễu.
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-4
 Tranh minh họa triều đình nhà Lê.
Cấm không cho tậu ruộng vườn nhà cửa trong trị hạt vì sợ quan hiếp bách kẻ trị hạ để mua rẻ. Cấm không được tư giao với đàn bà con gái ở nơi mình trị hạt để đừng treo gương xấu cho nhân dân. Cấm quan lại khi đã nghỉ hưu không được lui tới cửa công để thỉnh thác cầu cạnh.
Mặt khác, các quan không phải cứ ngồi vào làm quan rồi là ấm chỗ, mà phải tiếp tục phấn đấu để chứng tỏ năng lực nếu tốt thì được thăng chức còn không thì bị giáng chức hoặc cách chức. Trong các triều đại Lý, Trần, việc thăng giáng chức thường chỉ thực hiện khi có công hoặc tội bị phát giác. Nhưng đến triều vua Lê Thánh Tông, nhà vua cho thực hiện chế độ khảo thi và khảo khóa để định kỳ sát hạch quan lại cả về trình độ và tác phong làm việc. 
He lo quy trinh tien cu chon nhan tai cua vua chua Viet-Hinh-5
 Sĩ tử xem bảng vàng. Ảnh tư liệu.
Việc khảo thi, đối với quan văn thì thi giải kinh nghĩa các kinh sách Nho giáo, thi làm thơ và trả lời câu hỏi của vua về đạo trị nước. Quan võ thì thi bắn cung, đua ngựa, đấu khiên, đấu gươm, đấu vật, bày trận. Còn khảo khóa là nhận xét, đánh giá năng lực và kết quả công việc của mỗi vị quan. 
Đáng chú ý là việc khảo thi và khảo khóa được tiến hành với cả với các nhân vật con ông cháu cha vốn tiến thân từ con đường tập ấm. Như vậy biện pháp khảo khóa này cũng góp phần sửa chữa các hạn chế của chế độ tập ấm. Nó đòi hỏi các “con ông cháu cha” phải có một trình độ nhất định, làm được việc, nếu không sẽ bị sa thải.
Theo Đại Việt sử ký, tháng 11 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), Vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ về việc cấm để chậm các kỳ khảo khóa trong đó nói: “Phép khảo khóa cốt để phân biệt người hay, kẻ dở, nâng cao hiệu quả trị nước. Đời Đường, Ngu ba năm một kỳ xét công để thăng hạng. Nhà Thanh Chu, ba năm một lần xét việc để định thưởng phạt. Nay nha môn trong ngoài các ngươi, người nào nhậm chức đủ ba năm, phải báo ngay lên quan trên không được để chậm. Nếu quá một trăm ngày mà không kê danh sách gửi thì tính số người chậm, mỗi người chậm thì phạt một quan tiền, kẻ nào theo tình riêng mà dung túng đều phải trị tội cả”.
Thông qua khảo khóa, nhà vua và triều đình sẽ quyết định việc thăng giáng hoặc cách chức quan lại. Năm 1478, vua Thánh Tông nói rõ các quan viên nếu “hèn kém, đần độn bỉ ổi, không làm nổi việc thì đều bắt phải nghỉ việc và chọn người có tài năng, kiến thức, quen thạo công việc mà bổ vào thay”.
Đến năm 1488, vua Lê Thánh Tông chính thức quy định quy trình khảo khóa: “Ba năm tiến hành một lần sơ khảo, sáu năm thì tái khảo và chín năm thì thông khảo mới thi hành thăng chức người có công và truất chức kẻ có tội”. Nội dung và cách thức khảo khóa cũng được quy định là: “Trưởng quan các nha môn trong ngoài khi khảo khoá các quan viên trong phạm vi cai quản thì phải xét kỹ thành tích trong công việc mà viên đó đã làm. Nếu quả có lòng chăm nom, yêu thương, được nhân dân yêu mến và trong nơi cai quản ít kẻ trốn tránh thì mới xứng chức. Nếu vơ vét quấy nhiễu, gây tệ riêng tư và trong nơi cai quản có nhiều người trốn tránh thì không xứng chức”.
Có thể nói, nhờ những biện pháp mạnh đó, triều đại vua Lê Thánh Tông là triều đại cực thịnh trong thời phong kiến ở Việt Nam.
Nam Khánh

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.