Articles by "dan-chu"

Hiển thị các bài đăng có nhãn dan-chu. Hiển thị tất cả bài đăng


“Dân chủ là kết quả của những cuộc đấu tranh, của chiến lược, sự khéo léo, tầm nhìn, và lòng dũng cảm”, và rằng nơi nào mà nền dân chủ thành công thì nơi ấy cần có sự tận tụy, tài năng, lòng can đảm, và niềm đam mê tự do – “và đó là nơi mà hai từ ‘chính trị’ mang ý nghĩa tốt đẹp nhất”, Larry Diamond đã viết như vậy trong cuốn sách “Tinh thần Dân chủ” của ông.

Giáo sư Chính trị học Larry Diamond (ĐH Stanford) là một nhà khoa học xã hội chuyên tâm. Ông từng đảm nhận nhiệm vụ nghiên cứu sự cẩu thả của Mỹ trong việc xây dựng nền dân chủ ở Iraq, và kết quả của nghiên cứu này được trình bày trong cuốn “Squandered Victory”.
Tác phẩm “Tinh thần Dân chủ” (The Spirit of Democracy) là một dự án rộng hơn, nó đi từ Malawi tới Singapore, rồi Venezuela. Trong cuốn sách này, Diamond nghiên cứu các quốc gia có nền dân chủ bị sụp đổ tính từ thời điểm “làn sóng dân chủ hóa thứ ba” bắt đầu vào năm 1974 và cho đến nay (2008) vẫn chưa hồi phục. Ông không chỉ kể ra những quốc gia đã quá phi dân chủ như Nigeria – bị chi phối bởi tham nhũng nặng nề, mà còn cả Nepal, Thái Lan và quần đảo Solomon.
Ông nghiên cứu về cái gọi là “căn bệnh của sự cai trị mang tính cá nhân” ở châu Phi, cũng như vai trò của chế độ quân chủ, chủ nghĩa dân túy và Hồi giáo ở Trung Đông đối với sự sụp đổ của dân chủ. Một nghiên cứu bi quan đến vậy có thể khiến người đọc cảm thấy “Tinh thần Dân chủ” mang một nỗi sầu thê thảm. Song trên thực tế, Diamond lại không hoàn toàn bi quan cho lắm: ông tin rằng rồi đây gần như cả thế giới sẽ tiến tới dân chủ bằng cách này hay cách khác.
Ông viết, “Vào giữa những năm 1990, càng ngày tôi và rất nhiều đồng nghiệp của tôi càng nhận thức rất rõ rằng, nếu ba phần năm các quốc gia trên thế giới (nhiều trong số đó còn nghèo đói và không thuộc phương Tây) có thể chuyển mình thành những nền dân chủ, thì không có lý gì mà phần còn lại của thế giới không làm được điều đó.” Thậm chí, ông còn tin rằng các nước như Trung Quốc và Iran sẽ sớm trở thành các nền dân chủ.
Diamond cảm thấy lạc quan bởi ông đem so sánh cái hiện tại đầy những thất bại về dân chủ so với cái quá khứ hồi năm 1974, khi ông còn là thủ lĩnh sinh viên trong các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Ông nhắc lại rằng, trong quá khứ ấy, tinh thần dân chủ không hề thịnh hành. “Chỉ một phần tư số các quốc gia độc lập lựa chọn chính phủ của họ bằng các cuộc bầu cử cạnh tranh, công bằng và tự do”.
Khuynh hướng Marxist và chủ nghĩa dân tộc đã bắt đầu nổi lên ở châu Á và châu Phi vào thời đó. Diamond nhận thấy rằng, chế độ Haile Selassie sụp đổ ở Ethiopia đã khiến cho “hầu hết các quốc gia Châu Phi hạ Sahara rơi vào tay của quân đội hoặc các chế độ độc đảng”.
Ở khu vực Mỹ Latin, các chính phủ vốn được bầu lên một cách dân chủ cuối cùng cũng bị quân đội lật đổ và phải chịu đựng những luật lệ cai trị hà khắc. Ở Liên Xô, chủ nghĩa toàn trị không chỉ chi phối khu vực liên bang mà còn bao trùm lên cả các quốc gia vệ tinh Đông Âu quanh nó. Những nơi khác đầy rẫy hỗn loạn. Phe cánh Khmer Đỏ đã sớm kiểm soát Campuchia và giết chết khoảng một triệu đến hai triệu người (trong tổng số bảy triệu dân). Trong cộng đồng các nước Arabs, chỉ có Lebanon là một nền dân chủ.
Trong khi đó, chính quyền Mỹ lại đang bị ám ảnh bởi cuộc chiến tranh Lạnh trước sự bành trướng của Cộng sản, và rồi phải tìm cách rút khỏi cuộc chiến ở Đông Nam Á – khi mà cuộc chiến đã lấy đi sinh mạng của 58 nghìn công dân Mỹ cũng như hàng triệu người dân Việt Nam.
Vào thời điểm đó, Diamond đã thực hiện một chuyến đi dài ngày để tìm hiểu những nơi đang thay đổi, dù là xấu đi hay đang tốt lên. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là Bồ Đào Nha. Vài tháng trước đó, Phong trào cácLực lượng Vũ trang đã tiến hành đảo chính lật đổ chế độ độc tài – bán phát-xít tồn tại suốt gần 50 năm. Tại đây, Diamond đã chứng kiến cảnh lực lượng cộng sản và các lực lượng chính trị khác đối đầu quyết liệt trong một chính phủ mới.
Sau đó, ông đi về phía Nam tới Nigeria, nền dân chủ lớn nhất và hứa hẹn nhất của châu Phi. Tuy vậy, đất nước này đang rơi vào tình trạng “bất ổn kinh tế và chính trị” do bị cuộc nội chiến tàn phá dữ dội.
Từ châu Phi, Diamond đã đi đến Trung Đông, tới Ai Cập và Israel. Cả hai nước này đều đang dần khôi phục sau cuộc xung đột năm 1973. Tiếp đó là Thái Lan, đất nước “đang loay hoay tìm cách xây dựng nền dân chủ”, và Đài Loan, đất nước mà ông gọi là “một trong những quốc gia độc tài quan trọng trong phép màu Đông Á”.
Ở một khía cạnh nào đó, thì cuộc hành trình xuyên qua những miền đất ấy đã truyền cảm hứng cho sự nghiệp của Diamond. Qua những trải nghiệm của riêng mình, ông nhận ra rằng số phận của một nền dân chủ không hoàn toàn bị quyết định bởi các sự kiện lịch sử hay thậm chí các lực lượng trong hệ thống chính trị, mà thật sự nó đến từ niềm đam mê và nhiệt huyết của những con người đơn lẻ.
Ông viết rằng, “dân chủ là kết quả của những cuộc đấu tranh, của chiến lược, sự khéo léo, tầm nhìn, và lòng dũng cảm”, và rằng nơi nào mà nền dân chủ thành công thì nơi ấy cần có sự tận tụy, tài năng, lòng can đảm, và niềm đam mê tự do – “và đó là nơi mà hai từ ‘chính trị’ mang ý nghĩa tốt đẹp nhất”.
Ông đưa ra dẫn chứng từ cuộc cách mạng “máy ủi” phi thường của Serbia vào tháng 10 năm 2000, khi một liên minh dân chủ gồm các đảng đối lập, cùng với một nhóm sinh viên và những người nông dân lái máy kéo để về thủ đô Belgrade và huy động hơn một triệu người tham gia cuộc biểu tình. Họ đã lật đổ chế độ cai trị tàn bạo của Slobodan Milosevic – điều mà các chính trị gia bất tài không thể nào làm được trong suốt một thập niên chịu cảnh chiến tranh tàn bạo và suy thoái kinh tế. Cuộc cách mạng ôn hoà này đã trở thành tấm gương cho toàn khu vực, tiêu biểu nhất là ở Georgia và Ukraine.
Cuốn sách “Tinh thần Dân chủ” của Diamond đặt ra câu hỏi rằng, liệu có phải dân chủ chỉ có thể tồn tại ở các nước giàu có và có trình độ học vấn cao, với tầng lớp trung lưu mạnh mẽ. Và có phải tất cả mọi người đều thực sự mong muốn có được nền dân chủ, hay là vẫn có những người – chẳng hạn như người Trung Quốc – tin rằng độc tài là cách tốt nhất để điều hành một quốc gia?
Để trả lời câu hỏi này, Diamond đi tìm hiểu các lực lượng đóng góp cho dân chủ, từ những tác động nội bộ đã dẫn đến hình thành xã hội dân sự, cho tới những áp lực bên ngoài như là thuyết phục ngoại giao hoặc trừng phạt kinh tế. Diamond nhấn mạnh tầm quan trọng của Quỹ Quốc gia vì Dân chủ (NED), được thành lập vào năm 1983 để thúc đẩy các nền dân chủ ở nước ngoài, với những nền dân chủ thành công mà nó đã mang đến cho Ba Lan và Nicaragua.
Đáng chú ý nhất là những phân tích của Diamond về sức ảnh hưởng của người dân đến quá trình dân chủ hóa. Diamond lấy ví dụ bằng một câu chuyện về Alejandro Toledo, cựu lãnh đạo của Peru, từ một cậu bé chăn cừu nghèo khổ đã trở thành một tổng thống tham vọng và đầy lý tưởng. Nhiệm kỳ năm năm của Toledo tuy không thành công về mặt chính trị, nhưng Diamond đã coi đây là một bài học ở Mỹ Latinh.
Các cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo dân chủ ở Trung Quốc và châu Phi đã cho chúng ta biết đến những cá nhân đầy lý tưởng đang tìm kiếm sự thay đổi. Ngay cả ở nước Nga hiện nay, nơi mà Diamond tin rằng dân chủ đã không còn tồn tại kể từ thời của Boris Yeltsin, thì vẫn có những nhà báo can đảm như Anna Politkovskaya, người đã bị giết chết vì cố gắng viết ra sự thật.
Dầu mỏ là một yếu tố quan trọng trong câu chuyện về sự thụt lùi của nền dân chủ ở Nga, cũng như ở nhiều quốc gia khác. Trong số 23 quốc gia có nền kinh tế bị chi phối bởi “lời nguyền dầu mỏ”, không hề có lấy một quốc gia nào được coi là dân chủ. Từ Algeria cho tới Venezuela, “tất cả các quốc gia giàu dầu mỏ trên thế giới vẫn tiếp tục chìm trong chế độ độc tài hoặc bị rơi vào nền độc tài kể từ sau năm 1974, năm khởi đầu của làn sóng dân chủ hóa thứ ba”. Theo Diamond, “khi nguồn thu từ dầu mỏ tăng lên, thì dân chủ sụt giảm”.
Cuốn sách “Tinh thần Dân chủ” của Diamond không phải là kiểu sách dành cho tất cả mọi người. Nó chứa quá nhiều số liệu thống kê so sánh, dữ liệu của Ngân hàng Thế giới và các bảng xếp hạng của Freedom House. Nó đòi hỏi độc giả phải thực sự chú tâm. Song nó cũng đưa ra cơ sở vững chắc cho những ai hoài nghi luận điểm của Seymour Martin Lipset, rằng khi đất nước càng giàu thì triển vọng duy trì nền dân chủ càng lớn.
Diamond khẳng định rằng các quốc gia thuộc thế giới thứ ba chưa hẳn sẽ loay hoay mãi trong các chế độ độc tài. Ông chỉ ra, ngay cả những nơi như Burundi và Sierra Leone, sau các cuộc nội chiến tàn bạo và đẫm máu, cũng đã trở thành các nền dân chủ (dẫu còn đối mặt với nhiều rủi ro). Dân chủ có thể là một thứ gì đó xa xỉ, nhưng vấn đề chẳng nằm ở việc quốc gia giàu có hay nghèo khổ. Tất cả phụ thuộc vào sự nhiệt thành và sự tận tâm của người dân.


Thật vậy, thông điệp của cuốn sách được tóm gọn trong lời đề tặng của Diamond cho ba biểu tượng của dân chủ: Gandhi, Vaclav Havel và Daw Aung San Suu Kyi.
Diamond đưa ra một dự đoán đầy triển vọng rằng, ngay cả “những quốc gia như Iran và Trung Quốc, dù có vẻ như vẫn đang miễn nhiễm với các xu hướng dân chủ toàn cầu, song nhiều khả năng sẽ trở thành các nền dân chủ trong hai hoặc ba thập niên tới”.
Vậy thì, “nếu Trung Quốc có thể dân chủ hóa, tại sao toàn bộ thế giới lại không?”

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/05/gioi-thieu-sach-tinh-dan-chu-cua-larry-diamond/

Nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư 2011 - 2015
Bùi Quang Vinh

Hôm nay, chúng ta có mặt tại Đại hội XII của Đảng, một sự kiện chính trị quan trọng đánh dấu 85 năm ngày thành lập Đảng, hơn 40 năm đất nước hòa bình thống nhất và tròn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một nước có mức thu nhập trung bình.

Từ năm 1986 đến nay, thu nhập bình quân đầu người đã tăng gần 4 lần, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ trên 50% xuống còn dưới 5%... Những thành tựu của công cuộc đổi mới là không thể phủ nhận và đó cũng chính là nguyên nhân giúp Việt Nam vượt qua nhiều thách thức trong hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn là một nước nghèo, chúng ta chưa bằng lòng, thỏa mãn với những gì đạt được, nhất là khi chúng ta nhìn lại mình trong tương quan với các nước bên cạnh có cùng điều kiện như chúng ta.

Có lẽ rất ít ai biết rằng, đầu thế kỷ thứ XIX (1820) Việt Nam đã có vị thế rất đáng nể trong khu vực về dân số cũng như quy mô về kinh tế, lớn hơn cả Philippines và Myanmar cộng lại, gấp hơn 1,5 lần so với Thái Lan. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam khi đó xấp xỉ mức trung bình của thế giới. Hiện nay (2014), thu nhập bình quân đầu người của nước ta chỉ bằng 1/5 mức trung bình của thế giới (2.052/12.000 USD), chỉ bằng hơn 1/3 thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan (5.519 USD).

Mọi sự so sánh đều là khập khiễng vì trong lịch sử Việt Nam đã phải trải qua rất nhiều cuộc kháng chiến chống xâm lược và thống nhất đất nước nhưng chúng ta cũng đã có 40 năm sống trong hòa bình, 30 năm đổi mới. Đây là quãng thời gian dài tương đương với thời gian để các quốc gia lân cận như Hàn Quốc, Nhật Bản… đưa đất nước mình từ những đất nước nông nghiệp nghèo nàn trở thành các quốc gia có kinh tế phát triển. Hơn nữa, hiện nay, yêu cầu đổi mới và phát triển đất nước đối với Việt Nam càng cấp bách hơn bao giờ hết:

- Việt Nam đang ở trong giai đoạn ngắn ngủi còn lại của cơ hội dân số vàng (1970-2025), như vậy, chúng ta chỉ còn khoảng tối đa là 10 năm thời kỳ mà cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động cao nhất, sau đó giảm dần.

- Những động lực từ công cuộc đổi mới trước đây đem lại đang dần ít phát huy tác dụng. Bên cạnh đó, những dư địa cho tăng trưởng dựa trên tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên khoáng sản cũng không còn nhiều lợi thế.

- Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào kinh tế thế giới, chúng ta chấp nhận hội nhập tức là chấp nhận cạnh tranh. Do vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là một đòi hỏi có ý nghĩa sống còn.

Vì ba lý do trên, Việt Nam phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả hơn nữa nếu không muốn tụt lại phía sau, nếu không muốn nền kinh tế trì trệ kéo dài và rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp.


Thưa Đại hội, cũng tại hội trường này cách đây 5 năm (tháng 1/2011), Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 đã thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 (tại trang 99) ghi rõ: “Phải kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội...”. Nghị quyết cũng khẳng định: “Phải lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển”.

Thực tế 5 năm qua, chúng ta đã tích cực đổi mới thể chế về kinh tế và đạt được một số kết quả nhất định, nhưng đổi mới về chính trị thì hầu như chưa làm. Chính vì vậy mà công cuộc đổi mới trong 5 năm qua chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn. Nhìn lại thực tế 30 năm qua, thành tựu lớn nhất, bao trùm nhất của công cuộc đổi mới đó là chúng ta đã chuyển được nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Chính nó đã làm thay đổi căn bản cuộc sống của chúng ta và đưa đất nước phát triển. Tuy vậy, 70 năm qua cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi. Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí nó còn là rào cản, trở ngại cho sự phát triển.

Vì vậy, trong giai đoạn tới, việc đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới về kinh tế là một yêu cầu hết sức cấp bách. Đảng là người lãnh đạo cao nhất của đất nước, cần chủ động và nghiêm khắc đánh giá lại chính mình và thực hiện nghiêm chỉnh những nghị quyết mà Đại hội Đảng toàn quốc đã xác định; kiên quyết đổi mới cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị để hoạt động có hiệu quả hơn, thực chất hơn. Đây là nhân tố tiên quyết, quan trọng nhất cho quá trình đổi mới tiếp theo. Làm tốt điều này, Đảng sẽ lấy lại niềm tin trong nhân dân bằng tấm gương tự đổi mới và sự lãnh đạo hiệu quả của mình đối với đất nước và dân tộc.

Về đổi mới thể chế kinh tế, trọng tâm đổi mới thể chế kinh tế trong giai đoạn tới dựa trên 3 trụ cột chính sau đây:

- Trụ cột 1: Thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường

+ Việt Nam phải có mức tăng trưởng cao và ổn định liên tục trong 20 năm tới với mức tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm 7% (tương đương với mức tăng trưởng GDP 8%/năm) để đến năm 2035 đạt mức thu nhập bình quân đầu người từ 15.000 - 18.000 USD. Để đạt được mục tiêu này con đường duy nhất là phải tăng năng suất. Về vai trò của năng suất lao động, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế Paul Krugman đã tổng kết: “Năng suất không phải là tất cả, nhưng về lâu dài, nó gần như là tất cả. Một quốc gia có khả năng nâng cao mức sống lâu dài hay không gần như hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng nâng cao sản lượng tính trên đầu người của quốc gia đó”. Mức tăng năng suất lao động của Việt Nam đã liên tục sụt giảm từ cuối những năm 1990 đến nay, khiến năng suất lao động Việt Nam ở mức rất thấp so với các quốc gia trong khu vực. Điều đặc biệt, năng suất lao động ngay cả khu vực tư nhân của Việt Nam cũng đang liên tục sụt giảm và ở mức rất thấp. Có 3 nguyên nhân chính về vấn đề này:

(i) Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của Việt Nam rất lạc hậu: Lao động trong khu vực phi chính thức cao hơn nhiều so với trong khu vực chính thức, có tới hơn 44% lao động trong tổng số lao động của đất nước làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, khu vực tạo ra giá trị gia tăng thấp.

(ii) Nền tảng kinh tế thị trường chậm hoàn thiện, gây phương hại đến quyền sở hữu tài sản và làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường hàng hóa.

(iii) Thị trường các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai, tài nguyên khoáng sản được phân bổ chưa theo cơ chế thị trường, chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính.


Phải tập trung cao độ thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp trong nước (chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân Việt Nam) cả về số lượng và chất lượng, coi đây là nhiệm vụ của bộ máy nhà nước các cấp. Sức khỏe của doanh nghiệp trong nước chính là sức khỏe của nền kinh tế. Trước mắt, phải nâng cao được năng lực cạnh tranh và hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nước thông qua việc hoàn thiện, củng cố nền tảng của kinh tế thị trường, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản và xác định các chính sách công bằng, cạnh tranh lành mạnh trong tiếp cận vốn, đất đai, tài nguyên và thông tin.

Phải thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp. Nhà nước phải tạo dựng môi trường thuận lợi, xây dựng những trung tâm hướng dẫn và đào tạo cho các doanh nghiệp mới khởi nghiệp, cung cấp những kiến thức cũng như nguồn vốn thông qua việc hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, ngân hàng đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ cho các doanh nghiệp này… nhằm tạo ra một làn sóng khởi nghiệp và tinh thần doanh nghiệp mạnh mẽ trong xã hội. Phải coi vị thế của doanh nghiệp là vị thế của quốc gia.

Để duy trì tăng trưởng cao trong một thời gian dài, bền vững, cần tăng cường cải cách và tích cực đẩy mạnh học hỏi và đổi mới sáng tạo. Cả doanh nghiệp lẫn các tổ chức nghiên cứu khoa học hiện nay đều chưa có động lực để theo đuổi một chương trình tăng năng suất. Do vậy, xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia chính là cách thức để cải thiện tình hình về năng suất lao động của Việt Nam.

- Trụ cột 2: Công bằng và hòa nhập xã hội (hay còn gọi là bình đẳng cho mọi người)

+ Bên cạnh sự phát triển nhanh vận động theo cơ chế, quy luật thị trường, sự cạnh tranh gay gắt sẽ tạo ra sự gia tăng khoảng cách giầu nghèo và cơ hội tiếp cận các phúc lợi xã hội cơ bản. Do vậy, bên cạnh những chính sách phát triển kinh tế nhanh, mạnh mẽ, chúng ta phải xây dựng những chính sách đảm bảo sự công bằng trong phát triển cũng như cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người, nhất là đối với những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội như dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người nghèo…Đây cũng chính là tính ưu việt của CNXH và cũng chính là trách nhiệm của Nhà nước trong thực thi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và cũng là hành động thiết thực để thực hiện tốt các kế hoạch hành động của Liên hợp quốc về Mục tiêu Thiên niên kỷ sau năm 2015.

- Trụ cột 3: Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước

+ Năng suất trì trệ hiện nay và môi trường yếu kém cho phát triển khu vực tư nhân là do Nhà nước còn thiếu hiệu quả. Do điều kiện lịch sử của Việt Nam, những thiết chế công đã bị thương mại hóa, cát cứ, manh mún và thiếu sự giám sát của người dân.

+ Hiệu lực của Nhà nước dựa trên 3 trụ cột hỗ trợ: (a) Chính phủ được tổ chức tốt với công chức thực tài và có kỷ luật, phải nỗ lực để xử lý các vấn đề để tạo ra một cấu trúc nhà nước chặt chẽ hơn, mạnh mẽ hơn và đảm bảo chế độ chức nghiệp thực tài. (b) Nguyên tắc thị trường cần được áp dụng đầy đủ hơn trong hoạch định chính sách kinh tế trên cơ sở phân định rõ các lĩnh vực công cộng và tư, hạn chế xung đột lợi ích, tăng cường bảo vệ quyền tài sản (đặc biệt là về đất đai), thực thi cạnh tranh thị trường và hợp lý hoá sự tham gia của Nhà nước trong nền kinh tế.      

(c) Nâng cao hơn nữa trách nhiệm giải trình thông qua việc xây dựng một cơ chế hữu hiệu về kiểm soát và cân bằng giữa ba nhánh quyền lực, tạo dựng khung khổ pháp lý thúc đẩy quyền công dân. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin chính xác và kịp thời của công dân, và tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng.

 ­+ Khung khổ pháp lý của Việt Nam đã tạo không gian nhất định cho công dân tham gia vào quá trình quản trị nhà nước. “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là những điều được khẳng định rõ trong Hiến pháp. Nhưng trên thực tế, vẫn tồn tại khoảng cách giữa những cam kết này với thực tiễn tham gia của công dân trong quản trị nhà nước. Quy trình bầu cử và cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức xã hội chưa thực sự bảo đảm tính đại diện đích thực của người dân.


Thưa đại hội, để thực hiện nhiệm vụ cải cách thể chế kinh tế, một trong ba khâu đột phá chiến lược của Đảng ta, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì phối hợp với Ngân hàng thế giới tập hợp các chuyên gia kinh tế hàng đầu của thế giới và Việt Nam để xây dựng “Báo cáo VN 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”.

Báo cáo này nhằm xác định nền kinh tế của Việt Nam đang ở đâu trong khu vực và trên thế giới; mục tiêu khát vọng của Việt Nam đến năm 2035 là gì; những cản trở nào cho sự phát triển của Việt Nam hiện nay và bằng cách nào để Việt Nam đạt tới mục tiêu của mình. Báo cáo gồm 10 chương nghiên cứu sâu về 3 trụ cột phát triển và 6 chuyển đổi lớn, phác thảo các chiến lược phát triển thích hợp với xuất phát điểm của một nước thu nhập trung bình thấp trong bối cảnh thế giới đầy biến động nhằm đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập cao hoặc cận trên của thu nhập trung bình cao đến năm 2035.

Các chuyển đổi lớn bao gồm : Thứ nhất, xây dựng một nhà nước pháp quyền hiện đại với nền kinh tế thị trường đầy đủ và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao. Thứ hai, thúc đẩy hiện đại hóa nền kinh tế song hành với nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân. Thứ ba, phát triển năng lực đổi mới sáng tạo lấy khu vực tư nhân làm trung tâm. Thứ tư, bảo đảm công bằng xã hội cho các nhóm yếu thế và thúc đẩy xã hội trung lưu phát triển. Thứ năm, phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Thứ sáu, gia tăng mật độ kinh tế trong quá trình đô thị hóa và tăng cường tính kết nối giữa các thành phố và vùng lân cận. Hy vọng nó sẽ giúp ích cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, nhất là các đồng chí trong Ban chấp hành trung ương khóa XII trúng cử lần này nghiên cứu trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách đổi mới của Việt Nam.  

+ Nước ta đang đứng trước bước ngoặt của cải cách và phát triển. Thời cơ và thuận lợi rất lớn, nhưng thách thức và khó khăn cũng không hề nhỏ. Để đạt được khát vọng hướng tới một Việt Nam thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, lựa chọn duy nhất của chúng ta là thực hiện cải cách dựa trên các vấn đề nêu trên. Không thực hiện được những cải cách đó, chúng ta không thể khai thác được cơ hội, cũng không thể vượt qua thách thức, và nguy cơ tụt hậu xa hơn, rơi vào bẫy thu nhập trung bình sẽ khó có thể tránh khỏi. Chúng tôi tin rằng những thế hệ người Việt Nam hiện nay và tương lai chắc chắn có đủ ý chí, bản lĩnh và năng lực để thực hiện thành công công cuộc đổi mới.

Xin chúc sức khỏe các đại biểu, chúc đại hội thành công tốt đẹp



Tôi bị thu hút – chắc chắn như thế, bởi trang bìa của quyền sách có hình của Bà Aung San Suu Kyi (ASK), sau đó mới đến nhan đề của quyển sách. Động lực duy nhất khiến tôi bỏ ra một số tiền hơn 50.000 đồng để mua tác phẩm dịch này: tôi muốn biết “con đường gian truân” mà Bà ASK đã trải qua là gì và những gì mà đất nước Burma đã trải qua để trở thành một Myanmar (Myanmar nghĩa là “thuộc về Burma”) được cả thế giới ngưỡng mộ vì tiến trình dân chủ hóa sau hơn nửa thế kỷ thống trị của chính quyền quân sự độc tài?

Thoạt đầu, tôi thất vọng. Bà ASK chỉ được đề cập trực tiếp chưa đến 20 dòng và vài lần thấp thoáng qua những đoạn hội thoại giữa tác giả cùng các nhân vật trong quyển sách nói về The Lady. Chẳng thể tìm thấy con đường đi đến vị trí The Lady của Bà ASK trong quyển sách này. Càng không thể nhìn thấy một cách rõ ràng những diễn tiến của Burma trong nửa thế kỷ bị áp bức dưới chính quyền độc tài quân sự.

Nhưng sau đó, tôi nhận ra, đây không phải là quyển sách nói về con đường gian truân của riêng Bà ASK nhưng là con đường gian truân của dân tộc Myanmar. Hình ảnh Bà ASK trên bìa sách không phải để nói về cuộc đời Bà nhưng để nói về Niềm Hy Vọng của dân tộc Myanmar – một cách chính xác là Cơ Hội, của từng người dân Myanmar. Hy Vọng – và Cơ Hội, đó đã đến từ chặng đường hơn 50 năm gian truân tìm Tự do và Dân chủ của người Myanmar. The Lady chỉ là hình ảnh Tượng Trưng hoàn mỹ nhất cho tinh thần của người Myanmar trong suốt chặng đường đó.

Một quyển sách chính xác.

Tại sao lại muốn biết về con đường đấu tranh của The Lady chỉ bằng cách đọc về cuộc đời Bà? Tại sao không tìm hiểu về mục đích của việc chấp nhận gần 20 năm giam cầm của Bà để đánh đổi điều gì? Và tại sao không tìm hiểu con đường đấu tranh của The Lady thông qua từng tầng lớp người dân Myanmar? Từng người dân mới xây dựng nên một đất nước Myanmar hùng mạnh, một mình The Lady không thể làm điều đó, cho dù mỗi người dân sẽ có lý do riêng để gọi ASK là The Lady.

Myanmar quyết định mở cửa. Thein Sein từ nhà độc tài trở thành nhà cải cách. Chính quyền quân đội chuyển giao “hòa bình” thành chính quyền dân sự. Và người dân từ ý thức tìm hy vọng, nay chuyển sang tìm cơ hội. Và mọi tầng lớp người dân Myanmar đều nhìn thấy Cơ hội khi chính quyền quân sự quyết định mở cửa – kể cả các crony: những người làm giàu nhờ chính quyền quân sự độc tài.

Người thanh niên Myanmar làm quầy bar ở Arab Saudi với mức lương 1.700 đô la một tháng quyết định theo một doanh nhân người Đức trở về quê nhà với mức lương lúc đầu chỉ khoảng 300 đô la (đến khi tác giả phỏng vấn anh, con số này là gần 1.000 đô la). Nhưng anh bảo rằng anh thấy được cơ hội làm giàu ở quê hương mình.

Người đàn ông làm việc trong một tổ chức truyền thông có kinh phí do Nauy tài trở để thúc đẩy tiến trình dân chủ ở Myanmar nay đã trở về nhà. Ông thừa nhận “không biết phải làm thế nào vì sẽ không còn được tài trợ”. Nhưng ông vừa bắt tay với đài truyền hình quốc gia Myanmar – cựu thù của ông, để cùng làm việc trong một giai đoạn mới. Ông cũng nhìn thấy cơ hội.

Một nhà sư mang áo cà sa nâu từng bị cầm tù vì chống đối chính quyền độc tài, đang tiếp tục tu sửa ngôi chùa nơi mình có trách nhiệm quản lý. Ông nói rằng mình muốn trở lại cuộc sống bình thường của một nhà sư sau những năm tháng ông đã đấu tranh và bị cầm tù. Rất nhiều những nhà sư có cùng suy nghĩ đó – tất nhiên họ cũng bị cầm tù như ông. Họ nhìn thấy cơ hội để sống một cuộc sống dân chủ và tự do.

Một vài thanh niên trẻ hơn, bảo rằng họ có những cơ hội khác khi Myanmar mở cửa. Họ không chọn Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của The Lady, họ nói rằng: chúng tôi có thể tự chọn cho mình. Họ là người đã làm việc ở Singapore và khi Myanmar mở cửa, họ trở về. Họ là người đang du học ở một quốc gia không đóng cửa và khi Myanmar mở cửa, họ trở về. Họ là người sống tại Myanmar, gánh vác trách nhiệm tìm kiat mỗi ngày cho gia đình và khi Myanmar mở cửa, họ cũng “trở về”.

Có những người không chọn con đường mà Bà ASK và Liên đoàn của Bà đã đi. Họ nhìn thấy cơ hội khi Myanmar mở cửa và họ cảm ơn Bà – tất nhiên là sự cảm ơn trân trọng, nhưng họ chọn cho mình một con đường khác để đi, cả kinh tế và chính trị. The Lady không phải thần thánh để tất cả người dân Myanmar phải tôn sùng và dĩ nhiên những cơ hội mà họ nhìn thấy cũng chính là những giá trị mà The Lady đã đấu tranh để hôm nay Myanmar có được.

Con đường đấu tranh của Bà Aung San Suu Kyi thật phi thường và đáng ngưỡng mộ. Là tấm gương trọn vẹn cho người dân trong những thể chế độc tài nhìn theo. Nhưng Bà không phải thần thánh và con đường của Bà không phải con đường “thánh chiến”. Chắc chắn Bà biết điều đó. Người Myanmar biết điều đó. Lịch sử Myanmar sẽ khắc tên Bà một cách trang trọng và vững chắc – có thể như vị trí của một con người không thể không có trong lịch sử tìm Dân chủ và Tự do của dân tộc Myanmar, như thế là quá đủ và quá đáng trân trọng.

Và bây giờ, là thời khắc của cả dân tộc Myanmar chứ không chỉ riêng của The Lady.

Sau 50 năm, người con của vị anh hùng Aung San đã thể hiện trọn vẹn khát vọng Tự do của dân tộc Miến Điện. Sau gần 20 năm, ý chí bị giam cầm của dân tộc Miến Điện cũng đã chiến thắng. Đừng kéo dài thêm 50 năm nữa. Và đừng có thêm một 20 năm nữa. Dân tộc Myanmar nghĩ như thế. Chàng thanh niên bán những đĩa phim The Lady do Mỹ sản xuất cũng nghĩ như thế.

Cảm ơn The Lady và bây giờ là thời khắc của Dân tộc Myanmar, của chàng thanh niên 20 tuổi đang hăm hở nhìn về tương lai.


Cảm ơn các bạn. 

Cảm ơn rất nhiều vì đã ở đây. Tôi cũng yêu tất cả các bạn. Đêm qua tôi đã chúc mừng Donald Trump và đề nghị làm việc cùng ông ấy vì lợi ích của đất nước.

Tôi hy vọng rằng ông ấy sẽ là một tổng thống thành công của tất cả người Mỹ. Đây không phải là kết quả chúng ta muốn hay đã nỗ lực phấn đấu. Tôi xin lỗi vì chúng tôi không giành chiến thắng trong cuộc bầu cử này với những giá trị chúng tôi chia sẻ và tầm nhìn chúng tôi đặt ra cho đất nước.

Nhưng tôi cảm thấy tự hào và biết ơn về chiến dịch tuyệt vời mà chúng tôi xây dựng với nhau. Một chiến dịch bao quát, đa dạng, sáng tạo, ngoan cường và tràn đầy sinh lực. Các bạn là những người đại diện tốt nhất cho nước Mỹ, và được là ứng viên của các bạn là một trong những vinh dự lớn nhất của cuộc đời tôi.

Tôi biết các bạn thấy thất vọng như thế nào, bởi vì tôi cũng cảm thấy như vậy, và hàng chục triệu người Mỹ đã đặt hy vọng và ước mơ vào nỗ lực này cũng thế. Nỗi đau này sẽ còn kéo dài.

Nhưng tôi muốn các bạn ghi nhớ điều này. Chiến dịch của chúng tôi không bao giờ chỉ xoay quanh một người hay một cuộc bầu cử. Chúng tôi hướng về đất nước chúng ta yêu thương và xây dựng một nước Mỹ đầy hy vọng, rộng mở với mọi người và hào hiệp. Chúng tôi đã thấy đất nước bị chia rẽ sâu sắc hơn chúng tôi nghĩ. Nhưng tôi vẫn tin vào nước Mỹ, và tôi sẽ luôn như vậy.
 
Và nếu các bạn cũng thế, thì chúng ta phải chấp nhận kết quả này và hướng về tương lai. Donald Trump sẽ trở thành tổng thống của chúng ta. Chúng ta nên mở lòng và cho ông ấy cơ hội lãnh đạo. Nền dân chủ của chúng ta coi trọng việc chuyển giao quyền lực hòa bình.

Chúng ta không chỉ tôn trọng mà còn trân trọng điều đó. Việc làm nổi bật sự tôn trọng pháp trị; nguyên tắc mọi người đều bình đẳng về quyền lợi và vị thế; tự do sùng bái và bày tỏ ý kiến. Chúng ta tôn trọng và trân trọng những giá trị này và chúng ta phải bảo vệ chúng.

Tôi muốn nói thêm rằng nền dân chủ của chúng ta đòi hỏi sự tham gia của các bạn, không chỉ mỗi 4 năm, mà là toàn bộ thời gian. Vì vậy, hãy làm tất cả những gì có thể để thúc đẩy những mục tiêu và giá trị mà tất cả chúng ta trân trọng, đồng thời bảo vệ đất nước và hành tinh. Hãy khiến nền kinh tế có lợi cho tất cả mọi người, không chỉ những người ở tầng lớp thượng lưu.

Hãy phá vỡ rào cản kìm chân bất kể người Mỹ nào vươn tới ước mơ của họ. Chúng tôi đã dành một năm rưỡi để kết nối hàng triệu người từ khắp mọi nơi trên đất nước để cùng cất tiếng nói: chúng tôi tin giấc mơ Mỹ là đủ lớn cho tất cả mọi người, từ mọi chủng tộc và tôn giáo, đối với cả nam giới và phụ nữ, với những người nhập cư, cộng đồng LGBT (đồng tính, song tính và chuyển giới) và người khuyết tật. Cho tất cả mọi người.

Tôi rất vinh hạnh khi được đứng đây với tất cả các bạn. Tôi muốn cảm ơn Tim Kaine và Anne Holton - đối tác của tôi trong hành trình này.

Tôi rất vui khi thân thiết hơn với họ và điều cho tôi hy vọng lớn cùng niềm an ủi là ông Tim vẫn đứng vững trên tiền tuyến đảng Dân chủ của chúng ta, đại diện cho bang Virginia tại thượng viện.

Tôi muốn gửi lời đến Barack và Michelle Obama rằng đất nước nợ hai người lòng biết ơn. Chúng tôi cảm ơn hai người vì sự lãnh đạo khéo léo và kiên định đã có ý nghĩa đối với rất nhiều người Mỹ và người dân trên toàn thế giới. Và với Bill và Chelsea, Mark, Charlotte, Aidan, những người anh em và toàn thể gia đình, tôi yêu mọi người nhiều hơn tôi có thể bày tỏ.

Mọi người đã đi lại khắp đất nước, thậm chí cả bé Aidan 4 tháng tuổi cũng đồng hành với mẹ trong các chuyến đi. Tôi sẽ luôn biết ơn những người tài năng và tận tụy tại trụ sở của chúng tôi ở Brooklyn và trên khắp đất nước.

Các bạn đã đổ tâm huyết vào chiến dịch này. Một số người trong các bạn là những người kỳ cựu, đã từng tham gia các chiến dịch khác. Còn đối với một số người, đây là chiến dịch đầu tiên. Tôi muốn tất cả các bạn biết rằng các bạn là đội ngũ tốt nhất một người có thể mong đợi.

Và gửi đến hàng triệu tình nguyện viên, các nhà lãnh đạo cộng đồng, nhà hoạt động và các tổ chức công đoàn, những người đã đến từng nhà gõ cửa, trò chuyện với hàng xóm, đăng trên Facebook - thậm chí cả các trang Facebook cá nhân bí mật để ủng hộ tôi, tôi muốn tất cả mọi người bước ra phía trước và đảm bảo rằng tiếng nói của các bạn được nghe thấy.

Với những người đã đóng góp, thậm chí là khoản nhỏ như 5 USD, đó là động lực giúp chúng tôi vận hành chiến dịch, cảm ơn các bạn. Với tất cả chúng ta và người trẻ nói riêng, tôi hy vọng các bạn sẽ nghe điều này – như Tim đã nói, tôi dành toàn bộ cuộc đời để đấu tranh cho những gì tôi tin tưởng.

Tôi đã gặp thành công và cả thất bại, đôi khi rất đau đớn. Nhiều người trong số các bạn đang trong giai đoạn chập chững trong nghề nghiệp hay sự nghiệp chính trị - các bạn cũng sẽ gặp thành công và thất bại.
Việc thất bại rất đau đớn, nhưng đừng bao giờ từ bỏ niềm tin vào việc chiến đấu cho lẽ phải, vì việc đó đáng để làm.

Vì vậy chúng tôi cần các bạn tiếp tục chiến đấu, hiện giờ và cả suốt cuộc sống sau này. Tôi muốn nhắn nhủ với những người phụ nữ, đặc biệt là những cô gái trẻ - những người đã đặt niềm tin vào chiến dịch này và tôi: Tôi muốn các bạn biết rằng không có gì khiến tôi tự hào hơn là được làm người che chở cho các bạn.

Giờ đây, tôi biết chúng ta vẫn chưa phá vỡ "trần kính" cao nhất và khó khăn nhất, nhưng một ngày nào đó một người nào đó sẽ làm được, và hy vọng việc đó xảy ra sớm hơn chúng ta nghĩ.

Và hỡi những cô bé, đừng bao giờ nghĩ rằng các cháu không đủ quan trọng, mạnh mẽ và xứng đáng với tất cả cơ hội trên thế giới để theo đuổi và đạt được ước mơ của chính mình.

Cuối cùng, tôi rất biết ơn đất nước và những gì đất nước đã trao cho tôi.

Tôi luôn tự hào rằng tôi là người Mỹ, và tôi vẫn tin tưởng sâu sắc rằng nếu chúng ta đứng cùng với nhau, làm việc cùng nhau khi tôn trọng khác biệt của nhau, củng cố niềm tin và tình yêu đối với đất nước này, tương lai tươi đẹp sẽ luôn ở phía trước.

Bởi vì, các bạn biết đấy, tôi tin rằng chúng ta mạnh mẽ khi ở bên nhau và chúng ta sẽ cùng nhau tiến lên phía trước. Và các bạn đừng không bao giờ hối hận vì đã đấu tranh cho điều đó. Kinh Thánh đã nói rằng chúng ta sẽ gặt hái thành công nếu kiên trì. Các bạn của tôi ơi, đừng chán chường và mất nhiệt huyết, vì sẽ còn nhiều "mùa vụ" đến và có nhiều việc phải làm.

Tôi vô cùng vinh dự và biết ơn vì đã có cơ hội đại diện cho tất cả các bạn trong cuộc bầu cử này. Mong Thượng đế ban phước lành cho các bạn và nước Mỹ.

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/bau-cu-tong-thong-my-2016/toan-van-bai-phat-bieu-sau-bai-tran-cua-hillary-clinton-3496793.html 


Đôi khi tôi tự hỏi, một cuộc bầu cử xa xôi từ quốc gia bên kia bờ Thái Bình Dương sao lại có thể làm đất nước Việt Nam nhỏ bé này xôn xao như vậy?

Đêm 8/11 giờ Mỹ tức khoảng trưa 9/11 giờ Việt Nam, tỷ phố Donald J. Trump đắc cử Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ và guồng máy chính trị của siêu cường số 1 thế giới tiếp tục vòng quay của mình: đảng Cộng hòa lên nắm quyền Tổng thống sau 2 nhiệm kỳ liên tiếp của đảng Dân chủ.

Thú thật, tôi thích bà Clinton lên làm Tổng thống hơn. Tôi mong muốn được nhìn thấy lịch sử khi nước Mỹ sẽ có nữ Tổng thống đầu tiên và phong cách cùng kinh nghiệm của Bà đối với đất nước tôi sẽ có ích hơn so với Ngài tỷ phú. Nhưng tôi không có quyền chọn Tổng thống, chỉ người Mỹ mới có quyền đó với nền dân chủ của họ.

Hồi giữa năm 2016, nước Anh đã bầu cử dân chủ để chọn “Brexit” thay vì ở lại EU. Nhưng tháng 10/2016, đã có thông tin Tòa tối cao UK bác kết quả bầu cử này. Lúc đó, người ta lo ngại một EU hùng mạnh sẽ tan vỡ và hủy một kết quả bầu cử dân chủ sẽ càng tệ hại hơn.

Cuối năm 2016, tỷ phú Trump đắc cử Tổng thống Mỹ, hàng triệu người Mỹ đã bỏ lá phiếu tự do trong cuộc bầu cử này khóc lóc và lo lắng về một tương lai ảm đảm của nước Mỹ. Nhưng kết quả này là từ một cuộc bỏ phiếu bầu dân chủ chứ chẳng phải một kết quả được dàn xếp hay biết từ trước. Chính trị không phải trò đùa và không hoàn toàn do “hên – xui”. Chính trị là vận mệnh quốc gia. Nên chắc chắn, những người Mỹ có lý do để chọn Tổng thống của họ.

Một người bác từ Mỹ về dự đám cưới của tôi trong tháng 7 vừa rồi, đã nói: “Nước Mỹ thời kỳ Obama rất suy yếu, không còn mạnh mẽ như trước, như vị trí của một siêu cường.”

Tổng thống Obama đã đi một bước tiến dài trong lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại, khi Ông là tổng thống da màu đầu tiên liên tiếp 2 nhiệm kỳ của quốc gia đến hôm nay vẫn còn nạn phân biệt chủng tộc. Nếu lần bầu cử tiếp theo này, Bà Clinton đắc cử, chắc chắn nước Mỹ sẽ vĩ đại hơn như thế nào nữa. Nhưng có lẽ, nước Mỹ mới hơn 300 năm lập quốc mà đã vĩ đại sẵn rồi, thì thời khắc Nữ Tổng thống dân cử đầu tiên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ sớm muộn cũng sẽ đến trong tương lai.

Báo Tuổi Trẻ Cười hôm qua đăng bức ảnh hài như bên dưới:

Phải, người Mỹ đã tiếp tục bầu xong Vị Tổng thống thứ 45 của mình, còn chúng ta – Việt Nam, sẽ quay lại và tiếp tục với sự hỗn độn, ngổn ngang của mình.

Bất cứ khi nào, “quái thai” cũng có thể xuất hiện, nhưng quan trọng nhất là những giá trị vĩnh cửu sẽ luôn được lưu giữ và khắc ghi!

Chào America! Chào Tân Tổng thống dân cử thứ 45 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ!

 

Frederik Willem de Klerk (18 tháng 3 năm 1936, Johannesburg -) là một nhà chính trị Nam Phi, từng làm tổng thống Nam Phi và là người phá bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid.
Tiểu sử

Ông sinh ra tại Johannesburg, trong một gia đình có truyền thống chính trị. Ông tốt nghiệp Đại học ngành Luật khoa năm 1958 và thành lập một văn phòng luật trong vòng 10 năm.

Năm 1960, ông được bầu vào Quốc hội Nam Phi lần đầu tiên. Sau đó, ông lần lượt trở thành Bộ trưởng Công nghệ (1979-1982), Bộ trưởng Nội vụ (1982-1985), Bộ trưởng Ngoại giao (1984-1989).
de Klerk và Mandela trong Đại hội Kinh tế Thế giới tại Davos năm 1992

Tháng 9 năm 1989,ông trở thành Tổng thống Nam Phi, thay thế nhà độc tài Pieter Willem Botha. Nhờ vị trí này, và với quyết tâm, ông đã cải cách để từng bước phá bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid. Việc ông trả tự do cho những tù nhân da màu, trong số đó có Nelson Mandela, hợp pháp hóa Đại hội Dân tộc Phi (ANC) và thương lượng để ANC từ bỏ phương pháp đấu tranh bạo động mà chuyển sang đấu tranh dân chủ, hòa bình cũng như lập hiến pháp mới, đã làm thay đổi cả nước Nam Phi.

Năm 1993, với ANC, ông thành lập một chính phủ chuyển tiếp để chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống vào năm sau. ANC chiếm đa số phiếu, Nelson Mandela thắng cử, trở thành tổng thống Nam Phi và mở ra một kỷ nguyên mới.

Nhờ những đóng góp đó, mà ông cùng với Mandela được trao giải Nobel hòa bình năm 1993. Cũng như được báo Tạp chí Time chọn là Nhân vật trong năm 1993.

Khi Mandela thành tổng thống da màu đầu tiên của Nam Phi (thay thế ông) năm 1994, ông là phó tổng thống thứ nhất và Thabo Mbeki là phó tổng thống thứ hai trong Chính phủ Thống nhất Quốc gia.[1] Ông giữ vị trí này cho đến năm 1996, khi Hiến pháp mới đã được soạn thảo. Năm 1997, ông chuyển giao sự lãnh đạo của Đảng Quốc gia cho người khác và quyết định nghỉ hưu từ chính trị và sống ẩn dật.


Aung San Suu Kyi AC (tiếng Miến Điện: Aung San Suu Kyi (Burmese).svg; MLCTS: aung hcan: cu. krany, /ŋˌsæn.sˈ/,[2] Phát âm tiếng Myanma: [àʊɴ sʰáɴ sṵ tɕì] sinh ngày 19 tháng 6 năm 1945), là một chính trị gia người Myanmar, là lãnh tụ phe Đối lập của Myanmar, và là chủ tịch Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của Myanmar. Trong cuộc bầu cử phổ thông năm 1990, NLD giảnh 59% tổng số phiếu và 81% (392 trên 485) ghế trong nghị viện[3][4][5][6][7][8][9]. Tuy nhiên, bà chưa bao giờ được nhậm chức thủ tướng và đã bị chính quyền quân sự quản thúc tại gia trước khi cuộc bầu cử diễn ra. Bà chịu sự quản thúc tại gia của chính quyền quân sự trong gần 15 năm trong tổng số 21 năm quản chế cho đến khi được thả lần gần đây nhất vào tháng 11 năm 2010,[10] qua đó trở thành một trong những tù nhân chính trị được biết đến nhất trên thế giới.[11]

Năm 1990, Suu Kyi được trao tặng Giải tưởng niệm Thorolf RaftoGiải thưởng Sakharov cho Tự do Tư tưởng. Bà tiếp tục được trao tặng giải Nobel Hòa bình năm 1991 [12]Giải Jawaharlal Nehru cho sự Thông cảm quốc tế của chính phủ Ấn Độ cùng Giải thưởng Simón Bolívar của chính phủ Venezuela vào năm 1992. Năm 2007, chính phủ Canada công nhận Suu Kyi là công dân danh dự của Canada,[13] bà là người thứ tư có được vinh dự này.[14] Năm 2011 bà được trao tặng Huy chương Wallenberg.[15]. Hiện nay bà là hội viên danh dự của Câu lạc bộ Madrid. Ngày 19 tháng 12 năm 2012, bà được trao tặng Huân chương Vàng Quốc hội (Congressional Gold Medal), một trong hai giải thưởng cao quý nhất của Hoa Kỳ, bên cạnh Huân chương Tự do Tổng thống[16].

Ngày 1 tháng 4 năm 2012, Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ thông báo Suu Kyi đã trúng cử vào Pyithu Hluttaw, cơ quan Hạ viện của Myanmar, đại diện cho khu vực Kawhmu;[17] NLD cũng giành được 43 trên 45 ghế trống trong Hạ viện.[18] Kết quả cuộc bầu cử đã được xác nhận bởi các ủy ban bầu cử chính thức vào ngày hôm sau.[19]

Ngày 6 tháng 6 năm 2013, Suu Kyi cho biết tại trang web của Diễn đàn Kinh tế Thế giới rằng bà muốn tham gia tranh cử vào vị trí người lãnh đạo cao nhất của Myanmar vào năm 2015[20]. Cho tới năm 2014, bà xếp thứ 61 trong danh sách 100 người phụ nữ quyền lực nhất theo Forbes.[21]


Kim Dae-jung (tiếng Triều Tiên: 김대중, gọi theo tiếng Việt: Kim Tê Chung, âm Hán-Việt Kim Đại Trung[3];3 tháng 12 năm 1925 - 18 tháng 8 năm 2009) là tổng thống thứ 8 của Hàn Quốc từ 1998 đến 2003, chủ nhân giải Nobel Hòa bình năm 2000. Ông được gọi là "Nelson Mandela của châu Á"[4][5] bởi đã dành phần lớn cuộc đời hoạt động chính trị nhằm đấu tranh chống chế độ độc tài cũng như Chính sách Ánh dương ông áp dụng đối với Bắc Triều Tiên.

Mục lục

    1 Tuổi trẻ và đấu tranh chống độc tài quân sự
    2 Xây dựng nền dân chủ mới
    3 Tổng thống Hàn Quốc
    4 Những năm cuối đời
    5 Tham khảo
    6 Liên kết ngoài

Tuổi trẻ và đấu tranh chống độc tài quân sự

Các văn bản chính thức ghi ngày sinh của Kim Dae-jung là 3 tháng 12 năm 1925, tuy nhiên có nguồn cho rằng ngày sinh thực là 6 tháng 1 năm 1924, chính Kim đã đổi để tránh bị cưỡng bức tòng quân trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc[1]. Ông sinh ra ở huyện Sinan, thuộc tỉnh Jeolla, nay là Jeolla Nam. Kim tốt nghiệp trường Trung cấp Kinh doanh Mokpo năm 1943 với thành tích xuất sắc. Sau khi làm thư kí cho một công ty hàng hải của Nhật, ông trở thành chủ công ty và trở nên giàu có. Ông đào thoát khỏi sự xâm lược của Bắc Hàn trong Chiến tranh Triều Tiên[6].

Kim bắt đầu tham gia chính trường từ năm 1954, dưới thời tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc Lý Thừa Vãn. Ông đắc cử ghế nghị sĩ tại Quốc hội năm 1961, nhưng kết quả bầu cử bị một cuộc đảo chính quân sự do Park Chung Hee lãnh đạo[6]. Tuy nhiên ông liên tiếp đắc cử các cuộc bầu cử nghị viện năm 1963 và 1967, dần trở thành lãnh tụ phái đối lập. Do đó, ông được phái đối lập đưa ra tranh cử trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1971. Ông gần như đã có thể đánh bại Park, người đoạt được thắng lợi cuối cùng bằng một chiến dịch truyền thông đầy thiên vị[7]. Tuy vậy Kim đã tỏ ra ảnh hưởng mạnh mẽ; đặc biệt ở vùng Jeolla ông nhận được tới 95% phiếu phổ thông, một kỷ lục hiện vẫn chưa bị phá ở Hàn Quốc.

Kim bị một tai nạn xe hơi nghiêm trọng sau cuộc bầu cử, mà dường như là một vụ tấn công có chủ đích (để lại thương tật vĩnh viễn cho ông ở hông). Do đó ông phải rời nước để sang Nhật, nơi ông tiếp tục lãnh đạo phong trào dân chủ chống độc tài, vốn trở nên càng mạnh mẽ bởi Hiến pháp Duy Tân năm 1972 của Park nhằm thâu tóm quyền lực độc tài. Ngày 8 tháng 8 năm 1973, sau một cuộc họp với lãnh đạo Đảng Dân chủ Thống Nhất tại Khách sạn Grand Palace ở Tokyo, ông bị một nhóm đặc vụ Hàn Quốc bắt cóc và dự định thủ tiêu nhưng sau đó đã được thả ra, điều mà về sau ông còn nhắc lại trong diễn văn nhận giải Nobel[8].

Sau đó, ông quyết định trở về Seoul, nhưng chính quyền quân sự cấm ông hoạt động chính trị và năm 1976 đã bắt giam, kết án ông 5 năm tù vì tham gia một quốc biểu tình chống chính quyền[7], từ năm 1978 án giảm xuống thành quản thúc tại gia dưới sức ép của cộng đồng quốc tế. Tổ chức Ân xá Quốc tế đã gọi ông là một "tù nhân lương tâm"[9].


Sau vụ ám sát Park Chung Hee năm 1979, Kim được trao trả tự do hoàn toàn. Nhưng chỉ một năm sau, 1980, Chun Doo-hwan tiến hành đảo chính và sau đó đàn áp dã man Phong trào dân chủ Gwangju. Trong làn sóng bắt bớ thanh trừng sau đó, ông bị tuyên án tử hình với tội nổi loạn và gián điệp[10]. Nhiều tổ chức nhân quyền và quốc gia dân chủ đã vận động bãi bỏ án quyết này, trong đó Giáo hoàng Gioan Phaolô II có gửi thư cho Chun xin ân xá cho Kim[11]. Trong lúc sắp bị hành hình (bằng cách bị trói đưa lên trực thăng và quăng xuống biển), sự can thiệp muộn màng nhưng hữu ích của chính phủ Hoa Kỳ đã tỏ ra hiệu quả: án quyết giảm xuống còn 20 năm tù, và về sau trở thành trục xuất sang Hoa Kỳ. Kim Dae-jung sang cư trú tại Boston và giảng dạy với tư cách giáo sư thỉnh giảng ở Trung tâm Sự vụ Quốc tế của Đại học Harvard[12]. Trong thời kỳ này ông đã viết nhiều bài chỉ trích chính quyền quân sự trên các tạp chí uy tín. Vào năm 1985, ông quyết định trở về quê hương[13].

Xây dựng nền dân chủ mới

Trở lại Seoul, Kim lập tức đối mặt với lệnh quản thúc, nhưng tiếp tục đóng vai trò lãnh đạo phe đối lập. Năm 1987, Chun Doo-hwan nhìn nhận sự phản đối độc tài của người dân, đồng ý từ chức và tổ chức cuộc bầu cử tổng thống công bằng đầu tiên ở Hàn Quốc. Phe đối lập đã không tìm được tiếng nói thống nhất, số phiếu của họ bị phân chia giữa Kim Dae-jung (27%) và Kim Young-sam (28%), khiến cho ứng viên Roh Tae-woo - một cựu tướng lĩnh được Chun đỡ đầu - chiến thắng chỉ với 36.5 % phiếu phổ thông.

Năm 1992, ông lại một lần nữa thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống, lần này là cuộc đối đầu trực tiếp với Kim Young-sam, người sáp nhập đảng của mình với Đảng Dân chủ Công lý đương quyền để lập nên Đảng Đại Dân tộc[6]. Nhiều người tin rằng sự nghiệp chính trị của Kim Dae-jung đã kết thúc khi ông rời bỏ chính trường, sang Anh và nhận một vị trí tại Clare Hall thuộc Đại học Cambridge[14]. Tuy nhiên, năm 1995 ông đã tuyên bố quay lại và tham gia vào cuộc bầu cử tổng thống lần thứ tư của mình.

Và lần này, tình thế có phần thuận lợi hơn cho ông khi công chúng đang phản đối chính sách của chính phủ trong việc vực dậy nền kinh tế khỏi cú sốc của cuộc Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 bùng nổ chỉ ít ngày trước ngày bầu cử. Kết quả là trong cuộc bầu cử ngày 18 tháng 12 năm 1997, liên danh với ứng viên phó tổng thống Kim Jong-pil ông đã đánh bại Lee Hoi-chang-ứng cử viên được Kim Young-sam hậu thuẫn. Thắng lợi ông cũng đến một phần từ sự chia rẽ của đảng đối lập, cho phép ông đắc cử với chỉ 40.3% phiếu phổ thông[15]. Ông tuyên thệ làm Tổng thống thứ 8 của Đại Hàn Dân Quốc ngày 25 tháng 2 năm 1998, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc một đảng cầm quyền chuyển giao quyền lực hòa bình cho người đối lập chiến thắng trong một cuộc bầu cử dân chủ[6][16]

Tổng thống Hàn Quốc


Khi Kim Dae-jung mới nhậm chức, đã có những ngờ vực về khả năng điều hành của ông, người được biết tới như một nhà hoạt động dân chủ nhiều hơn là một nhà quản lý. Tuy nhiên ông đã tỏ ra xuất sắc trong vị trí của mình.

Đáp lại cú sốc của cuộc khủng hoảng tài chính (kinh tế tăng trưởng âm -5.8% năm 1998), Tổng thống Kim đã tiến hành những cuộc cải cách mạnh mẽ nhằm tái cấu trúc nền kinh tế[6]. Ông tìm cách giảm bớt những ưu đãi cho các chaebol (các tập đoàn lớn ở Hàn Quốc như Hyundai hay Samsung có quan hệ mật thiết chính quyền) trong khi tăng cường minh bạch tài chính. Năm 1999, nền kinh tế tăng trưởng trở lại 10.2 % và tiếp tục duy trì tốc độ những năm sau đó[4]. Ông cũng vận động để đưa thành luật dẫn đến sự hình thành chế độ phúc lợi xã hội đương đại ở Hàn Quốc[17][18]; trong nhiệm kỳ của ông Hàn Quốc đã đồng tổ chức (cùng với Nhật Bản) thành công World Cup 2002. Ông cũng tỏ ra khoan dung với những lãnh đạo của chế độ cũ đã từng bắt giữ và tuyên án tử hình mình.

Đối với Bắc Triều Tiên, chính quyền Kim Dae-jung thực hiện một đường lối ngoại giao mềm dẻo được biết dưới tên Chính sách Ánh dương. Trong khi lên án các hành động khiêu khích quân sự của Bình Nhưỡng, Hàn Quốc tuyên bố không có ý định tái chiếm miền Bắc bằng bất kỳ cách thức nào và tìm cách cường hợp tác giữa hai miền, tránh xung đột và chính trị hóa các sự vụ. Kết quả là các gia đình bị ly tán giữa hai miền đã có cuộc gặp gỡ hiếm hoi, các công ty Hàn Quốc được phép đầu tư có giới hạn ở miền gần biên giới hai nước và Hàn Quốc cũng như cộng đồng quốc tế có kênh tiếp cận cho mục đích viện trợ nhân đạo. Đỉnh điểm của chính sách này là hội nghị thượng định có tính lịch sử năm 2000 giữa Kim Dae-jung và lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong-il[19]. Điều này đã giúp Kim Dae-jung nhận giải Nobel Hòa bình năm 2000, nhưng cũng có những chỉ trích rằng chính sách này đã che đậy các tội ác tàn bạo ở miền Bắc trong thời gian đó cũng như chuyển giao một khoản tiền lớn cho chính phủ Bình Nhưỡng nhằm đổi lấy thỏa thuận[20]. Năm 2003, Chánh văn phòng của Kim là Park Ji-won đã phải chịu án tù 12 năm với một số cáo buộc, trong đó có liên quan tới việc Hyundai trả tiền cho Hội nghị liên Triều[19].

Những năm cuối đời

Kim kêu gọi những biện phán ngăn chặn chống lại Bắc Triều Tiên để giải trừ vũ khí hạt nhân và bên cạnh đó bảo vệ cho chính sách Ánh dương của mình[21]. Ông nhận bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Portland ngày 17 tháng 4 năm 2008.

Kim Dae-jung mất ngày 18 tháng 8 năm 2009 tại Bệnh viện Đại học Yonsei ở Seoul. Nguyên nhân cái chết được cho là Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan[22]. Một tang lễ liên tôn giáo cấp quốc gia được tổ chức cho ông vào ngày 23 tháng 8 trước tòa nhà Quốc hội, với đám rước đưa thi hài ông tới Nghĩa trang Quốc gia Seoul bằng nghi thức Công giáo. Ông là người thứ 3 trong lịch sử Hàn Quốc nhận nghi thức quốc tang[23]. Một điện tín do Wikileaks tiết lộ cho thấy Đại sứ quán Hoa Kỳ vào ngày ông mất đã mô tả ông là "tổng thống cánh tả đầu tiên của Nam Hàn"[24].

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.