Latest Post


Chính sách là quan điểm, phương hướng và cách thức chung, sau khi được cấp trên có thẩm quyền phê duyệt và ban hành thành văn bản chính thức sẽ là cơ sở, tài liệu chỉ dẫn để ra quyết định quản lý ở các cấp. Trong phục vụ nguồn tài nguyên thông tin, để không vi phạm Quyền tác giả (QTG), các thư viện phải định ra một số chính sách liên quan đến QTG giúp cho việc giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể trong những tình huống khác nhau và giúp cho việc thống nhất kế hoạch phục vụ tại các bộ phận chức năng. Dưới góc độ quản lý, các chính sách liên quan đến QTG cần phải xây dựng trong một thư viện bao gồm chính sách về quyền truy cập, chính sách sử dụng các sản phẩm thông tin, chính sách đối với dịch vụ sao chụp tài liệu, chính sách đối với dịch vụ cho thuê và mượn tài liệu, chính sách sử dụng dịch vụ sản xuất sách nói, chính sách đảm bảo an toàn thông tin nhằm hạn chế vi phạm QTG… Các thư viện cần công bố chính thức trên trang web của mình các chính sách này, coi đó là một trong những minh chứng chứng tỏ thư viện bảo đảm thực hiện đúng các quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và QTG.

1. Chính sách về quyền truy cập liên quan đến QTG

Hiện nay, trong bối cảnh nguồn tài nguyên điện tử tại các thư viện có xu hướng tăng lên và lượng người truy cập nguồn tài nguyên điện tử cũng ngày càng tăng lên, các cơ sở dữ liệu (CSDL) thư mục, CSDL toàn văn với các loại hình tài liệu sách, luận văn, luận án, CSDL online, CSDL offline, các bộ sưu tập số, tài liệu đa phương tiện (CD-ROM, băng cassette, băng video, băng DVD...) ngày càng nhiều. Để có thể hạn chế vi phạm QTG trong việc truy cập nguồn tài nguyên điện tử, các thư viện cần xây dựng chính sách về quyền truy cập. Trong nội dung của chính sách này cần quy định rõ những loại tài liệu điện tử nào được phép sử dụng và mức độ giới hạn sử dụng như thế nào cho từng đối tượng người sử dụng (NSD), đặc biệt là những tài liệu đang được thư viện đưa lên phục vụ thông qua cổng thông tin và trang web của thư viện. Một cổng thông tin và trang web được bảo vệ khi chỉ cho phép truy nhập có giới hạn, phải có đăng ký tài khoản và mật khẩu truy cập. NSD muốn sử dụng các dịch vụ hoặc xem thông tin phải đăng nhập bằng tên và mật khẩu của mình. Nếu NSD không được cấp quyền truy cập thì NSD sẽ không thể truy nhập được nội dung thông tin đưa lên cổng thông tin và trang web đó. Việc bắt buộc phải đăng ký tài khoản truy cập này giúp các thư viện có thể quản lý được vấn đề truy cập các CSDL của NSD. Từ đó có thể biết và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm QTG trong việc sử dụng tài liệu điện tử tại thư viện như tải dữ liệu về, in ấn tài liệu vượt giới hạn cho phép qua việc kiểm tra các phiên làm việc của NSD.

2. Chính sách sử dụng các sản phẩm thông tin liên quan đến QTG

Các sản phẩm thông tin của thư viện dù mua hay do thư viện tự tạo lập cũng phải được quy định rõ ràng những trường hợp nào NSD được quyền sử dụng và những trường hợp nào không được quyền sử dụng theo quy định về QTG. Ví dụ:

+ Đối với Bản tin điện tử: các thư viện cần phải đưa ra các quy định bằng văn bản trong việc cập nhật bản tin và vấn đề trích dẫn nguồn trên bản tin điện tử. Đối với những thông tin do thư viện sưu tầm từ nguồn khác, thư viện cần phải ghi rõ nguồn đã sưu tầm bao gồm tên tác giả bài viết, tên báo - tạp chí đăng tải bài viết. Đối với những thông tin do thư viện biên soạn, thư viện cũng cần ghi rõ tên thư viện mình. Việc làm này giúp NSD tránh trường hợp trích dẫn thông tin mà không ghi rõ nguồn gốc, giúp NSD khi trích dẫn những thông tin trên bản tin điện tử sẽ biết được mình đang sử dụng nguồn tin từ đâu, nguồn tin này có giá trị đối với việc trích dẫn hay không.

+ Đối với các Bộ sưu tập số: các thư viện cần phải quy định rõ loại hình tài liệu nào được phép sao chụp và giới hạn được phép sao chụp tối đa 10% tổng số trang của tài liệu số nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Đồng thời cần quy định rõ phương thức sử dụng và phạm vi truyền bá bộ sưu tập số theo quy định của pháp luật về QTG.

+ Đối với CSDL trực tuyến - online (mua hoặc thuê quyền truy cập từ các nhà cung cấp ở trong nước và ở nước ngoài bao gồm CSDL báo – tạp chí, CSDL luận văn – luận án, CSDL sách điện tử,...) cần phải đưa ra những chính sách sử dụng theo đúng pháp luật về QTG trong nước và quốc tế, đặc biệt là CSDL trực tuyến mua từ các nhà cung cấp nước ngoài, để khi đưa vào sử dụng có thể tránh được những tranh chấp về bản quyền.

Giữa thư viện và nhà cung cấp cần đưa ra những cam kết về QTG được quy định chặt chẽ và cụ thể trong hợp đồng mua CSDL trực tuyến. Khi cung cấp dịch vụ sử dụng CSDL trực tuyến cho NSD, thư viện cần tuân thủ hợp đồng đã ký với nhà cung cấp, làm tốt công tác bảo hộ bản quyền số, đồng thời phải bảo vệ lợi ích sử dụng của NSD. Do việc mua quyền sử dụng CSDL trực tuyến chủ yếu thực hiện thông qua việc ký hợp đồng, nên muốn tránh tình huống nhà cung cấp CSDL tước đoạt quyền sử dụng hợp pháp của NSD qua hợp đồng thì các điều khoản về “sử dụng hợp lý” được quy định trong pháp luật về QTG cần được thể hiện đầy đủ trong hợp đồng.

Đối với việc mua quyền sử dụng CSDL trực tuyến, thư viện cần yêu cầu nhà cung cấp bổ sung các điều khoản về quyền “sử dụng hợp lý” vào trong hợp đồng nhằm tránh xảy ra tranh chấp về QTG và bảo vệ lợi ích của thư viện, của NSD. Cần quy định rõ một khi CSDL nảy sinh vấn đề xâm phạm QTG mà lỗi không phải do thư viện và NSD, dẫn đến việc tác giả của tài liệu trong CSDL đòi bồi thường, hoặc do vấn đề QTG mà CSDL bị các cơ quan quản lý nhà nước về QTG hoặc Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam kiểm tra niêm phong thì mọi trách nhiệm pháp luật và kinh tế đều do nhà cung cấp CSDL trực tuyến chịu trách nhiệm. Trong điều khoản hợp đồng mua bán cần ghi rõ cho phép thư viện có quyền căn cứ theo quy định về “sử dụng hợp lý” để sao chép ít nhất một bản nhằm mục đích lưu trữ trong thư viện và NSD được phép sao chép dưới 10% tổng số trang của tài liệu số nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Bên cạnh đó hợp đồng cần quy định rõ phương thức sử dụng và phạm vi truyền bá CSDL trực tuyến.

Như vậy, trong nội dung của hợp đồng thuê, mua quyền sử dụng CSDL trực tuyến các thư viện cần lưu ý đến những yếu tố sau:

- Kỳ hạn của hợp đồng:
Thông thường hợp đồng thuê, mua các CSDL trực tuyến của các nhà cung cấp có hiệu lực trong kỳ hạn ban đầu là 12 tháng được tính từ ngày ký kết hợp đồng. Hợp đồng sẽ được gia hạn thêm sau kỳ hạn ban đầu nếu thư viện tiếp tục trả phí thuê mua. Các nhà cung cấp sẽ cung cấp cho thư viện những thay đổi về kỳ hạn thuê mua sau 60 ngày kể từ khi có sự thay đổi kỳ hạn.

Trong trường hợp thư viện vi phạm các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng, các nhà cung cấp sẽ ngưng cung cấp việc truy cập tới các CSDL mà không hoàn lại bất cứ khoản tiền nào cho đến khi thư viện khắc phục những vi phạm đó. Nếu sau 30 ngày mà các vi phạm không được khắc phục, các nhà cung cấp có quyền chấm dứt hợp đồng thuê mua.

- Những điều kiện các nhà cung cấp cho phép thực hiện và không được thực hiện:

• Những điều kiện cho phép thực hiện:
1. Thư viện được phép xem toàn văn và tra cứu nội dung trong các CSDL trực tuyến đã thuê mua;
2. Thư viện được phép đăng tải hoặc in nội dung trong các CSDL đã thuê mua cho NSD thư viện;
3. Thư viện được phép cho NSD thực hiện việc sao chụp tối đa đến 10% tổng số trang của tài liệu theo đúng quy định về QTG của pháp luật quốc tế và Việt Nam.

• Những điều kiện không cho phép thực hiện:
1. Thư viện không được cho phép hay tạo những điều kiện thuận lợi để NSD truy cập tới những vị trí không được phép trong các CSDL đã thuê mua;
2. Thư viện không được phép bán, bán lại, cho thuê, cấp phép hay chuyển giao những CSDL đã thuê mua;
3. Thư viện không được phép xóa hay di dời bất cứ định dạng trong các nhan đề, thay đổi những thông tin về QTG hay những ghi chú trong các CSDL.

- Về điều khoản lưu trữ: thư viện có thể lưu trữ lại những nội dung trong các CSDL đã mua khi:
1. Thư viện tiếp tục cam kết thực hiện quyền đảm bảo an toàn và hạn chế trong việc sử dụng các CSDL như đã qui định trong hợp đồng.
2. Thư viện trả phí thuê mua để tiếp tục truy cập vào các CSDL này, và chấp nhận những kỳ hạn, điều kiện tương thích của các nhà cung cấp.

- Về trách nhiệm pháp lý:
+ Các nhà cung cấp sẽ chịu trách nhiệm về bất cứ sự cố, thiếu sót hay hư hỏng nào từ các CSDL đã thuê mua. Các nhà cung cấp sẽ chịu trách nhiệm do sự phân phát đường truyền Internet, sự gián đoạn các dịch vụ hay bất cứ sai lầm của các nhà xuất bản được quy định trong hợp đồng.

+ Các nhà cung cấp sẽ chịu trách nhiệm về các sự cố của phần cứng và phần mềm máy tính, đường truyền thông tin, nhà cung cấp dịch vụ internet hay các dịch vụ không được quy định trong hợp đồng và các thiết bị được dùng để truy cập tới các CSDL đã thuê mua [3].

Thư viện và NSD nào vi phạm pháp luật về QTG phải chịu những hình phạt đã được quy định trong Luật Việt Nam và quốc tế và bị đình chỉ giao dịch với các nhà cung cấp.

3. Chính sách đối với dịch vụ sao chụp, nhân bản tài liệu liên quan đến QTG

Dịch vụ sao chụp tài liệu (in ấn, photocopy, số hóa tài liệu) tại thư viện được tiến hành nhằm hỗ trợ NSD trực tiếp khai thác, sử dụng những thông tin, tri thức mà họ cần đến để đáp ứng nhu cầu của mình. Việc triển khai dịch vụ sao chụp, nhân bản tài liệu của thư viện phải tuân thủ một số quy tắc nhất định và phải được quy định cụ thể trong nội dung chính sách sử dụng các dịch vụ, ví dụ:

+ Hạn chế đến mức cao nhất việc sao chụp toàn bộ một tài liệu: Không cho phép sao chụp toàn bộ một tạp chí mà chỉ sao chụp một/một số bài báo trong tạp chí đó theo yêu cầu NSD; không sao chụp toàn bộ một cuốn sách mà chỉ sao chụp một phần, chương,... của sách. Riêng đối với việc sao chụp tài liệu xám (luận văn, luận án khoa học, báo cáo kết quả nghiên cứu,...) trong giới hạn cho phép 10% tổng số trang của tài liệu.

+ Hạn chế số lần sao chụp trên một tài liệu: Số lần sao chụp trên một tài liệu được cung cấp đến người dùng chỉ được phép sao chụp tối đa là một lần. Để tránh sao chụp nhiều lần trên một tài liệu, các thư viện cần có các biện pháp về công nghệ để bảo đảm rằng mức giới hạn cho phép của thư viện là 10% tổng số trang của tài liệu. Nếu không ngăn chặn hành vi sao chụp nhiều lần này, NSD sẽ sở hữu được toàn bộ nội dung tài liệu.

+ Cần đưa ra những quy định cụ thể những loại tài liệu nào được phép sao chụp và những loại tài liệu nào không được phép sao chụp: Đối với tài liệu có giá thành cao hoặc tài liệu đa phương tiện không nên đưa vào dịch vụ sao chụp. Ví dụ các loại từ điển, bách khoa toàn thư, atlas địa lý, các sách hội họa, mỹ thuật, kiến trúc,...

+ Việc sao chụp các tài liệu quý hiếm cần được thanh toán theo một biểu giá đặc biệt để bù đắp chi phí cho việc bảo quản tài liệu.

+ Trên mỗi bản sao chụp, cần thể hiện rõ ràng, chính xác và đầy đủ những thông tin chính liên quan đến việc triển khai và sử dụng dịch vụ: Ví dụ, các thông tin chứng nhận về sự cho phép sao chụp tài liệu đó của thư viện, thông tin về thời điểm triển khai dịch vụ, người trực tiếp thực hiện dịch vụ, số lượng trang được sao chụp,...[6].

Đối với trường hợp NSD sao chụp tài liệu để thực hiện một đề tài nghiên cứu nào đó, thì phải có xác nhận của cơ quan công tác và NSD phải làm cam kết tuân thủ QTG khi sử dụng bản sao tài liệu từ dịch vụ sao chụp của thư viện.

Riêng đối với các thư viện không trực tiếp thực hiện dịch vụ photocopy mà hợp đồng với các cơ sở photocopy bên ngoài để thực hiện dịch vụ, thì trong hợp đồng ký với các cơ sở này, thư viện cần yêu cầu tuân thủ pháp luật về QTG. Trong hợp đồng phải làm rõ các cam kết của các cơ sở photocopy khi thỏa thuận thực hiện dịch vụ photocopy tài liệu tại thư viện, thể hiện trong một số điều khoản của hợp đồng. Ví dụ, nhân viên thư viện sẽ nhận yêu cầu sao chụp tài liệu của NSD, sau đó, cơ sở photocopy sẽ cho nhân viên vào thư viện lấy tài liệu được photocopy. Khi sao chụp xong, nhân viên photocopy sẽ phải mang toàn bộ tài liệu được sao chụp và bản sao chụp giao cho thư viện để nhân viên thư viện sẽ kiểm soát được số lượng và khối lượng sao chụp tài liệu có vượt quá giới hạn cho phép QTG hay không (trước khi giao bản sao cho NSD).

4. Chính sách đối với dịch vụ cho thuê và mượn tài liệu liên quan đến QTG

Dịch vụ cho thuê và mượn tài liệu là dịch vụ khó kiểm soát nhất trong việc thực thi QTG tại các thư viện/cơ quan thông tin. Khi NSD mang tài liệu về nhà, thư viện không thể kiểm soát được liệu họ có tuân thủ những quy định về QTG hay không? Chính vì vậy, để hạn chế tình trạng vi phạm QTG ở dịch vụ này, bên cạnh việc quy định rõ những đối tượng sử dụng nào được phép thuê và mượn tài liệu? Thời hạn thuê và mượn tài liệu trong bao lâu? Giá cả cho việc thực hiện dịch vụ như thế nào? Thư viện cần có thông báo rằng nếu NSD tạo ra một bản sao khác thì chỉ được sử dụng cho mục đích tự học và nghiên cứu của cá nhân. Đồng thời, thư viện cũng cần có một thông báo "Cảnh báo về QTG" khi NSD thuê hoặc mượn tài liệu. Nếu NSD cố tình vi phạm những điều quy định về QTG trong bản cam kết, khi bị phát hiện sẽ chịu các hình phạt về hành vi vi phạm của mình trước thư viện và cơ quan chủ quản thư viện.

5. Chính sách sử dụng dịch vụ sản xuất sách nói liên quan đến QTG

Các thư viện đã, đang và sẽ triển khai dịch vụ sản xuất sách nói cần nắm vững từng loại tài liệu được chuyển dạng nhằm phục vụ người khiếm thị theo quy định tại Điều 25 Nghị định 100/2006/NĐ-CP “Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị” [1].

Pháp luật về QTG cho phép thư viện được chuyển dạng một bản tài liệu trong thư viện không cần xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu QTG nhằm mục đích phục vụ người khiếm thị, không nhằm mục đích kinh doanh. Đối với tài liệu xám, nếu thư viện muốn chuyển dạng cần được sự cho phép của tác giả. Thư viện không được phép sao chụp, chuyển dạng nhiều bản và cung cấp cho NSD vì mục đích kinh doanh.

Trong quá trình xây dựng chính sách sử dụng đối với dịch vụ sản xuất sách nói, các thư viện nên tham khảo Luật bản quyền dành cho người khiếm thị của Anh. Trong Luật này có những điều khoản quan trọng có thể rất hữu ích như:

+ Khi thư viện chuyển dạng theo nguyên tắc 1-1 (tức từ một tài liệu gốc sang một tài liệu chữ nổi hoặc sách nói) vì mục đích phi lợi nhuận đương nhiên là không vi phạm QTG và không yêu cầu cần giấy phép hay không bị bất cứ sự truy cứu trách nhiệm nào từ người giữ bản quyền.

+ Thư viện có thể phân phối và cung cấp bản sao, nếu có giấy phép nói rõ hình thức tài liệu và hoạt động này vì mục đích phi lợi nhuận.

+ Thư viện cần kiểm tra lại mục đích sử dụng tác phẩm chuyển dạng để đảm bảo luật bản quyền không bị xâm phạm và các quyền trong luật được thực thi theo đúng trách nhiệm. Nếu nhân sao nhiều hơn một bản thì phải khai báo cho người giữ bản quyền số lượng bản in sao và nhiệm vụ của nơi cấp giấy phép là phải công bố chi tiết việc nhân bản đó cho cơ quan quản lý tác quyền. Thư viện sẽ là đơn vị nằm trong các tổ chức phi lợi nhuận để có thể sản xuất in sao nhiều bản đối với tài liệu chuyển dạng phục vụ người khiếm thị.

+ Các thư viện/cơ quan thông tin cần ra sức vận động giới xuất bản đồng ý cấp phép sao chụp, chuyển dạng tài liệu theo tinh thần phục vụ tình nguyện.

6. Chính sách đảm bảo an toàn thông tin nhằm hạn chế vi phạm QTG

Khi xây dựng chính sách đảm bảo an toàn thông tin trong thư viện phải lưu ý đảm bảo ba yêu cầu: bí mật, toàn vẹn và sẵn sàng sử dụng.

- Bí mật: Không được truy cập, sử dụng hoặc tiết lộ khi không được phép (ví dụ: các thông tin cá nhân, tài khoản của NSD, các thông tin về lịch sử mượn trả tài liệu của NSD…).
- Toàn vẹn: Đảm bảo sự chính xác, không thay đổi đối với thông tin gốc (ví dụ các thông tin thư mục trong CSDL thư mục, thông tin toàn văn trong CSDL điện tử, thông tin trên trang web của thư viện…).
- Sẵn sàng: Thông tin ở trạng thái sẵn sàng cho việc truy cập và sử dụng (ví dụ: hệ thống quản lý CSDL thư mục, CSDL toàn văn…).

Để thực hiện các yêu cầu trên là vấn đề không đơn giản vì liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có quyền truy cập và sử dụng thông tin của NSD. Việc đảm bảo an toàn thông tin nhằm hạn chế vi phạm QTG mâu thuẫn với việc đảm bảo tính “mở” (tạo điều kiện thuận lợi trong việc truy cập, sử dụng mọi lúc, mọi nơi) của thư viện hiện đại. Mâu thuẫn này thể hiện trong bảng dưới đây:

2011.6f

Từ bảng mô tả trên có thể thấy, nếu các thư viện thắt chặt hoặc thả lỏng các chính sách hạn chế thì sẽ ảnh hưởng đến chính sách mở và ngược lại. Ví dụ, để phòng tránh khả năng sao chép tài liệu điện tử từ mạng Internet, thư viện thực hiện chính sách chỉ phục vụ NSD đọc tài liệu này trong mạng nội bộ của thư viện. Thư viện sẽ ngắt kết nối ra Internet ở các máy tính. Điều này có thể cản trở việc truy cập và tiếp cận thông tin của NSD. Ngược lại, nếu Internet được kết nối và người dùng có thể tự do tải dữ liệu về, sao chép tài liệu,… sẽ gây nên những rủi ro cho hệ thống thông tin, đồng thời sẽ không kiểm soát được những hành vi vi phạm QTG của NSD [4].

Chính vì thế, việc ngăn chặn những hành vi vi phạm QTG của NSD thư viện là một việc làm cấp thiết hiện nay.

Tóm lại, tùy thuộc vào quy mô, mục đích, chức năng, đối tượng phục vụ và khả năng tài chính, mỗi thư viện có thể có nhiều chính sách khác nhau để bảo đảm hạn chế tình trạng vi phạm QTG trong hoạt động phục vụ trong và ngoài thư viện với nhiều dạng thức tài liệu khác nhau. Bên cạnh đó, các chính sách này tạo điều kiện cho NSD có thể sử dụng thư viện một cách thuận lợi và hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra đối với nguồn tài nguyên thông tin quý giá trong thư viện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Tuyết Anh. Vấn đề bản quyền trong thư viện: Kỷ yếu hội nghị Thư viện Việt Nam hội nhập và phát triển. – 2006. - tr.62 - 69.
2. Huỳnh Thanh Xuân. Tổ chức, quản lý và khai thác cứu nguồn tài nguyên điện tử tại các thư viện thành viên Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh: Luận văn thạc sĩ. - Tp. Hồ Chí Minh: Trường Đại học KHXH & NV Tp. Hồ Chí Minh, 2009.
3. Nghị định số 100/2006/CĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ và quyền tác giả.
4. Nguyễn Cương Lĩnh. Đảm bảo an toàn thông tin trong các thư viện hiện đại // Tạp chí Thư viện Việt Nam. – 2009. – Số 3(19). – tr.31–37.
5. Nguyễn Ngọc Lâm. Về quyền photocopy tác phẩm trong môi trường giáo dục // Tạp chí Khoa học Pháp lý. – 2007. Số 39. - tr.10.
6. Trần Mạnh Tuấn. Bản quyền trong việc triển khai dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu trong các thư viện đại học: Kỷ yếu hội nghị Thư viện Việt Nam hội nhập và phát triển. – 2006. - tr.70 - 74.

____________________
PGS, TSKH. Bùi Loan Thùy - ThS. Bùi Thu Hằng
Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG TPHCM
Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam số 6(32) – 2011 (tr.26- 31)

Trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu dài, nhiều địa danh của đất nước được gắn với loài vật đứng đầu tứ linh (long, li, quy, phượng). 

Thăng Long, Hà Nội 

Theo sử tích, vào tháng 8/1010, khi vua Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, nghĩa là
Theo sử tích, vào tháng 8/1010, khi vua Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, nghĩa là "rồng bay lên".

Thăng Long là tên gọi của kinh đô của nước Đại Việt các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hưng, trải dài từ năm 1010 - 1788, ngày nay là Thủ đô Hà Nội. Theo sử tích, vào tháng 8/1010, khi vua Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, nghĩa là "rồng bay lên".

Ngày nay, Thăng Long - Thủ đô Hà Nội mê hoặc du khách với những hồ nước thơ mộng, những con đường ngập lá mùa thu, Lăng Bác, chùa Một Cột, Văn miếu Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long… Ngoài các địa danh du lịch, Hà Nội còn được biết đến như một thiên đường ẩm thực của du khách trong và ngoài nước.

Cầu Long Biên 
Cầu Long Biên có kiến trúc gợi nhớ đến tháp Eiffel (Pháp). Cầu không chỉ là chứng nhân lịch sử, mà còn là thắng cảnh khơi gợi bao cảm xúc sáng tác.

Cầu Long Biên có kiến trúc gợi nhớ đến tháp Eiffel (Pháp). Cầu không chỉ là chứng nhân lịch sử, mà còn là thắng cảnh khơi gợi bao cảm xúc sáng tác. 
Cầu Long Biên thường được gọi là “cầu Rồng”, một trong những biểu tượng của Thủ đô. Đây là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng tại Hà Nội, do kiến trúc sư lừng danh người Pháp Gustave Eiffel Pháp thiết kế.

Cầu được xây dựng từ năm 1899-1902, dài 1.862 m và là một trong những cây cầu lớn của thế giới thời kỳ đó. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhiều nhịp cầu đã bị hủy hoại nặng nề.

Hiện tại, cầu Long Biên được sử dụng cho tàu hỏa, xe đạp, xe máy và người đi bộ. Ngoài là một trong những địa danh phải đến của du khách khi ghé Thủ đô, cầu Long Biên còn là địa điểm hẹn hò, chụp ảnh yêu thích của giới trẻ và giới nhiếp ảnh.

Núi Hàm Rồng, Lào Cai 
Núi Hàm Rồng là một trong số ít các núi ở Việt Nam có yếu tố tượng hình rõ nét và đẹp.

Núi Hàm Rồng là một trong số ít các núi ở Việt Nam có yếu tố tượng hình rõ nét và đẹp.     
Hàm Rồng là tên của một ngọn núi nổi tiếng nằm trong dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ của Việt Nam. Núi mang tên này do mang dáng dấp khá rõ nét của một chiếc đầu rồng đang ngẩng lên trời. Nằm cách thị trấn du lịch Sa Pa (Lào Cai) không xa, núi Hàm Rồng đã trở thành một điểm đến được nhiều du khách ưa thích với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu mát mẻ, trong lành.

Không chỉ là điểm ngắm Sa Pa đẹp nhất, núi Hàm Rồng còn được biết đến như một khu vườn thượng uyển với các loài hoa khoe sắc quanh năm. Và đến đây quý khách cũng cảm nhận được những giá trị văn hoá của các tộc người thiểu số khi thăm quan khu vực biển diện ca nhạc của các chàng trai - cô gái dân tộc Mông hoặc khoác lên chiếu áo, chiếc váy để đóng giả làm những “trai làng - gái bản”…

Quả đúng là không phải nói quá khi nơi đây được ví như một Sa Pa thu nhỏ, bởi du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp hội tụ của thiên nhiên, văn hóa và con người của thị trấn vùng cao theo từng bước chân từ cổng Hàm Rồng lên núi…..

Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh 
Vịnh Hạ Long được cả thế giới biết đến như kỳ quan thiên nhiên có một không hai với các đảo đá, hang động và bãi biển đẹp mê hồn.

Vịnh Hạ Long được cả thế giới biết đến như kỳ quan thiên nhiên có một không hai với các đảo đá, hang động và bãi biển đẹp mê hồn. 
Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo bởi địa danh này chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí.

Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình cùng với hàng nghìn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng. Nơi đây còn gắn liền với những giá trị văn hóa - lịch sử hào hùng của dân tộc.

Vịnh Hạ Long nổi bật với hệ thống đảo đá và hang động tuyệt đẹp. Đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình Carxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới.
Là một phần trong quần thể di sản vịnh Hạ Long, với những hòn đảo xinh đẹp có bãi cát dài trắng xóa cho, Vịnh Bái Tử Long ngày càng thu hút khách nước ngoài đến thăm quan, nghỉ dưỡng.

Là một phần trong quần thể di sản vịnh Hạ Long, với những hòn đảo xinh đẹp có bãi cát dài trắng xóa cho, Vịnh Bái Tử Long ngày càng thu hút khách nước ngoài đến thăm quan, nghỉ dưỡng.   

Là vùng lõm trong Vịnh Bắc bộ, thuộc vùng Đông Bắc của Việt Nam. Vịnh Bái Tử Long gắn liền với lịch sử của dân tộc Việt Nam với địa danh nổi tiếng là thương cảng Vân Đồn, một vùng trên bến dưới thuyền sầm uất thời Lý. Đây còn là nơi tưởng nhớ chiến công oai hùng của Trần Khánh Dư cùng ba anh em họ Phạm, người xã Quan Lạn đánh tan đoàn thuyền lương của tướng giặc Nguyên Mông Trương Văn Hổ (năm 1288).
Ở Bái Tử Long có các đền thờ nổi tiếng như đền Trần Quốc Tảng (còn gọi là đền Suốt). Anh hùng Trần Quốc Tảng (tước Hưng Nhượng Vương) là con thứ ba của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, có công rất lớn trong nhiều trận đánh quân Nguyên Mông. Ông còn là một nhà văn thơ khoáng đạt và một nhà tư tưởng sâu sắc về Thiền tông. Dân chúng lập đền thờ ông và hàng năm đều mở hội vào ngày Rằm tháng Giêng Âm lịch.

Bạch Long Vĩ, Hải Phòng 

Đây là một hòn đảo có vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển Vịnh Bắc bộ.
Đây là một hòn đảo có vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển Vịnh Bắc bộ.
Bạch Long Vĩ ("đuôi rồng trắng") là một đảo đồng thời là một huyện thuộc thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Đây là đảo xa bờ nhất trong vịnh Bắc bộ. Đảo có một vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển Vịnh Bắc bộ. Ngoài ra, đảo còn nằm trên một trong 8 ngư trường lớn của Vịnh Bắc bộ, có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của Việt Nam ở khu vực này.

Ngoài phát triển hậu cần nghề cá, những năm gần đây, Bạch Long Vĩ đã thu hút một lượng khách thăm quan đến với đảo. Môi trường trong lành, vị trí thu hút, bờ biển đẹp và người dân đảo hiền hoà, Bạch Long Vĩ có tiềm năng rất lớn trong phát triển du lịch.
Cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa
Cầu Hàm Rồng là tượng đài về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân và thanh niên Việt Nam.
Bắc qua sông Mã, cách thành phố Thanh Hoá 4 km về phía Bắc, cầu Hàm Rồng là cây cầu rất nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam. Câu cầu nguyên gốc do Pháp xây dựng năm 1904, dạng vòm thép không có trụ ở giữa, bị phá hủy năm 1946 do chiến tranh.
Cầu Hàm Rồng là tượng đài về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân và thanh niên Việt Nam.

Từ 1962-1964 cầu Hàm Rồng được xây dựng lại. Trong những năm sau đó, cầu là trọng điểm của cuộc đấu tranh đánh phá và bảo vệ giao thông. Hư hại nặng nề vì bom Mỹ vào năm 1972, đến năm 1973 cầu lại được khôi phục. Ngày nay cầu Hàm Rồng được sử dụng cho đường sắt và được coi như một biểu tượng cho ý chí quật cường của quân dân Thanh Hóa.

Cầu Rồng - Đà Nẵng
Đây là cây cầu thể hiện hình dáng một con rồng đang bay qua sông Hàn hướng ra biển lớn.
Đây là cây cầu thể hiện hình dáng một con rồng đang bay qua sông Hàn hướng ra biển lớn.
Cầu Rồng bắc qua sông Hàn được xây dựng tại khu vực nút giao thông gần Cổ Viện Chàm nối với nút giao thông Nguyễn Văn Linh nối dài, phía đông là nút giao thông đường Trần Hưng Đạo, kéo dài đến đường Sơn Trà - Điện Ngọc. Được xây dựng đúng dịp kỷ niệm 38 năm Giải phóng Đà Nẵng, thành phố này đã khánh thành cây cầu có kiến trúc độc đáo với hình dáng một con rồng đang vươn mình bay ra biển - cầu Rồng.

Theo thiết kế, cầu Rồng thể hiện hình ảnh một con rồng đang bay trên sông Hàn, đầu rồng ngẩng cao, thân rồng uốn lượn và cùng với hệ thống đèn chiếu sáng trang trí, kiến trúc cảnh quan. Cầu Rồng kỳ vọng trở thành điểm nhấn kiến trúc Đà Nẵng.

Biển Long Hải
Biển Long Hải được ví như một con rồng biển màu xanh.
Biển Long Hải được ví như một con rồng biển màu xanh.
Được ví như một con rồng biển màu xanh, bãi biển Long Hải (thuộc thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, thành phố Vũng Tàu) được nhiều người biết đến với những bãi tắm trải dài, uốn lượn, nước xanh trong cùng những khối đá vươn mình hùng vĩ.

Ngoài tắm biển, đến với Long Hải, du khách còn thích thú việc "chấm mút" miếng khô đối nướng thơm lừng, chén mắm me chua chua cay cay vào buổi tối hay trời vừa sáng, tạt vào chợ Long Hải mua hải sản tươi sống, giá rẻ.

Nhà lớn Long Sơn, Bà Rịa - Vũng Tàu
Nhà lớn Long Sơn gồm nhiều nhà có lối kiến trúc tựa kiểu đình làng Việt Nam. 

Nhà lớn Long Sơn hay Đền Ông Trần là một quần thể kiến trúc nghệ thuật theo lối cổ, được làm bằng gạch ngói và các loại gỗ quí tọa lạc tại thôn 5, với tổng diện tích khoảng 2 ha, chia thành ba khu: đền thờ; nhà hội, trường học, chợ, nhà bảo tồn Ghe Sấm và khu lăng mộ ông Trần.

Nhà lớn Long Sơn gồm nhiều nhà có lối kiến trúc tựa kiểu đình làng Việt Nam.
Nhà lớn Long Sơn gồm nhiều nhà có lối kiến trúc tựa kiểu đình làng Việt Nam, nhưng không theo một qui hoạch tổng thể nào cả. Các nhà lầu nhà trệt xen kẽ kế tiếp nhau, không đăng đối, không sau trước, đã tạo nên một bố cục kiến trúc khác lạ, phá vỡ nghiêm luật xây dựng đương thời.

Bến Nhà Rồng
Tên gọi bến Nhà Rồng có nguồn gốc từ hình tượng hai con rồng châu đầu vào mặt trăng theo mô típ "lưỡng long chầu nguyệt" - một kiểu trang trí quen thuộc của đền chùa Việt Nam. 
Tên gọi bến Nhà Rồng có nguồn gốc từ hình tượng hai con rồng châu đầu vào mặt trăng theo mô típ

Bến Nhà Rồng (ngã ba sông Sài Gòn, quận 4, TP.HCM) là nơi vào ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu hành trình cứu nước.

Nơi đây vốn là một thương cảng lớn, được người Pháp xây dựng từ năm 1863. Tên gọi bến Nhà Rồng có nguồn gốc từ hình tượng hai con rồng châu đầu vào mặt trăng theo mô típ "lưỡng long chầu nguyệt" - một kiểu trang trí quen thuộc của đền chùa Việt Nam, được gắn trên nóc tòa nhà trụ sở thương cảng.

Ngày nay tòa nhà này là Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bạn có thể vào tham quan bảo tàng trong giờ mở cửa. Ngoài tìm hiểu kiến trúc tòa nhà, các chứng tích cách mạng, đồ lưu niệm của Bác… trải nghiệm không thể quên của bạn trong chuyến tham quan này là dãy hành lang tuyệt đẹp hướng ra sông Sài Gòn với cái tấp nập của tàu bè, của tầm nhìn bao quát Q 2 và những làn gió mát rượi từ sông.

Sông Cửu Long 

Sông Cửu Long, hay Cửu Long Giang là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam. 

Sông Cửu Long (9 con rồng) là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy qua lãnh thổ của Việt Nam và đổ ra biển qua 9 cửa (ngày nay chỉ còn 7 cửa). Đây cũng là tên gọi của vùng đồng bằng được hình thành do phù sa của các nhánh sông này bồi đắp.

Sông Cửu Long, hay Cửu Long Giang là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam.

Ngoài là vựa lúa, thủy sản chính của cả nước, đây còn là một trong những địa điểm thu hút du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, khám phá và tìm hiểu. Mỗi tỉnh của vùng đất này có một đặc điểm riêng, một thế mạnh riêng. Ví dụ nếu An Giang có miếu bà Chúa Xứ, rừng tràm Trà Sư, vương quốc mắm Châu Đốc… Kiên Giang có thập cảnh, đảo ngọc Phú Quốc. Cà Mau có rừng U Minh, cột mốc tọa độ…

Nguồn:
http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/van-hoa-the-thao/12-dia-danh-rong-noi-tieng-cua-viet-nam.html
Theo Tuyết Hạnh/Báo Xây Dựng

Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và những dự đoán ứng nghiệm - Ảnh 1

Tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhân dân tôn thờ.

 (ĐSPL) - Cụ Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (SN 1491 - 1585, thọ 94 tuổi), để lại cho hậu thế 487 câu sấm ký gọi là “Sấm Trạng Trình” cách đây đã trên 500 năm. Lạ kỳ là không ít sự kiện lịch sử Việt Nam và thế giới đã xảy ra trong suốt 500 năm qua có không ít điều "ứng” vào các câu ghi trong “Sấm Trạng Trình".

Hoành sơn nhất đái...

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, với tài lý số của mình, không thể phủ nhận được rằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo ra được những kỳ tích cũng như những ẩn số về tài danh của một kỳ nhân mà đến nay hậu thế cũng chưa giải mã hết được. Ngay từ lúc sinh thời, ông đã dùng tài lý số của mình "cứu vãn" cho triều đình nhà Mạc tồn tại được một thời gian khá dài. Dưới thời nhà Mạc, năm 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc Đăng Doanh đưa ông lên làm Tả thị lang Đông các học sỹ.

Nhưng sau khi dâng sớ hạch tội 18 lộng thần không được vua chấp thuận, ông đã cáo quan về ở ẩn. Thời ấy, đất nước đang trong giai đoạn hỗn loạn, có tới ba triều đại cùng tồn tại là nhà Mạc, nhà Nguyễn, nhà Trịnh. Lúc triều nhà Mạc lâm nguy, vua Mạc đương triều mới sai người đến hỏi ông. Ông đã đưa ra lời sấm cho nhà Mạc rằng: "Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô".

Nghĩa là nếu chạy lên Cao Bằng thì sẽ tồn tại được 3 đời. Quả nhiên, nhà Mạc lên Cao Bằng, tồn tại được thêm 3 đời nữa thật. Việc nhà Mạc chạy lên Cao Bằng dựng nghiệp, miền đất Cao Bằng được trấn ải bằng một thế lực phong kiến khiến các triều đại Trung Hoa thời kỳ đó khó xâm phạm nước Việt trong một thời gian dài. Đất Quảng Uyên (tên gọi của đất Cao Bằng xưa) được người Trung Hoa đặc biệt coi trọng bởi nơi đó được cho rằng có nhiều mỏ vàng dễ khai thác.

"An Nam lý số hữu Trình tuyền" - đó là lời sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đưa ra cho nhà Nguyễn. Nhờ đó, nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cõi, đất nước ta có hình thái như ngày hôm nay. Năm 1568, chúa Nguyễn Hoàng khi đó thấy anh mình là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết chết, thấy số phận của mình bị nguy cấp, Nguyễn Hoàng đã sai người đến diện kiến Trạng Trình ở am Bạch Vân để xin lời sấm. Câu chuyện cụ Trạng cầm tay sứ giả dắt ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang bò và bảo: "Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân", nghĩa là một dải Hoành sơn có thể dung thân được. Hiểu được ngầm ý ấy, Nguyễn Hoàng bèn nhờ chị xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào, nhờ đó mà dựng nên nhà Nguyễn ở phương Nam.

Sau này, nhà Nguyễn đã đổi câu sấm của Trạng Trình thành: "Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân" hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp mãi mãi. Việc nhà Nguyễn di chuyển vào vùng Thuận Hóa tạo điều kiện mở rộng bờ cõi nước Việt xuống phía Nam, hình thành địa đồ quốc gia Việt Nam như hiện nay có tầm ảnh hưởng không nhỏ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và những dự đoán ứng nghiệm - Ảnh 2

Khu vườn tượng trong khu di tích Trạng Trình ngày nay.

 Phải giữ được Biển Đông!

Tài tiên tri của cụ được lưu truyền qua nhiều câu sấm ký gọi là "Sấm Trạng Trình". Cụ được xem là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến Quốc hiệu Việt Nam. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ, ngàn bài thơ văn với những giá trị nhân đạo, giàu chất triết lý, đầy tình yêu nước và là kho tàng Minh triết cho muôn đời sau. Ngoài câu sấm ký "Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân", thì với Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri, dạy rằng: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình". Những lời sấm truyền này được ghi rõ trong Bạch Vân Am Thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm với bài thơ Cự Ngao Đới Sơn. Trong đó có câu: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình/Chí những phù nguy xin gắng sức/Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình". Với con mắt chiến lược, nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm, Trạng Trình đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.

Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ càng đọc, càng thấy rất "kim nhật kim thì", rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là để nói cái chí của cụ "Chí những phù nguy xin gắng sức" (Ngã kim dục triển phù nguy lực), nhưng lại đọng trong đó một tư tưởng chiến lược, một dự báo thiên tài: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình/Vạn lý Đông minh quy bả ác/ức niên Nam cực điện long bình".

Trải qua không ít thực tế, chúng ta càng thấy những câu thơ sấm truyền của cụ Trạng mang tính thời sự thức thời đối với người Việt. Hai câu thơ mang tính dự báo chiến lược của cụ Trạng càng khiến lay động từ sâu thẳm ý chí của người Việt về cái tâm thức bám biển, giữ biển của mình. Tự ngàn xưa, người Việt đã là những cư dân sông nước, cư dân của văn hóa biển đảo.

Với kho sấm truyền của cụ Trạng, nhà nghiên cứu, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, người có "duyên" làm bộ phim Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cây đại thụ rợp bóng 500 năm, góp phần giải mã cuộc đời một kỳ nhân nhận định: Những lời sấm còn ứng đúng với hai cục diện trên thế giới. Cục diện thứ nhất là đại chiến thế giới lần thứ II. Đại chiến thế giới khởi đầu từ khi phát xít Đức tấn công Ba Lan, từ năm 1940 đã bắt đầu rục rịch (cuối năm Thìn - Long vĩ) khởi đầu chiến tranh, đến năm 1941 (đầu năm Tỵ - Xà đầu) Hitler tấn công Liên Xô (cũ). Qua cuối năm 1942, giữa năm 1943 (Mã đề dương cước) thì đến năm 1944 - 1945 (Thân Dậu niên lai kiến thái bình) mới qua khỏi nạn chiến tranh. Cục diện thứ hai là cuộc chiến tranh Iraq cũng xảy ra vào cuối năm Thìn (2000), đầu năm Tỵ (2001) rồi kéo dài đến hết năm Thân - Dậu mới ổn.

Tuy nhiên, qua bài viết này vẫn chưa thể giải mã hết những bí ẩn của điều gọi là "Sấm Trạng Trình". Thực tế, cho đến nay vẫn cần sự quan tâm của các nhà khoa học để giải đáp. Cuối cùng, những lời sấm của nhà tiên tri số 1 Việt Nam cũng vẫn quay trở về với ý nghĩa sâu xa như ngay trong lời cảm đề ông đã viết: "Bí truyền cho con cháu - Dành hậu thế xem chơi", mọi ý nghĩa sâu xa hơn vẫn là một câu hỏi lớn.

Nhà tiên tri số 1
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi, đời vua Lê Thánh Tông (tức năm Hồng Đức thứ 22 - năm 1491) tại làng Trung Anh, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương - nay là làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, TP.Hải Phòng. ông sinh trưởng trong một dòng tộc danh gia. Cha ông là Thái Bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định, mẹ là bà Nhữ Thị Thục, tinh thông lý số, là con gái của quan Thượng thư Nhữ Văn Lân. Cụ Trạng mất năm ất Dậu (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được dân gian truyền tụng và suy tôn là nhà tiên tri số 1 của Việt Nam. Người Trung Hoa thì coi ông là "An Nam lý số hữu Trình tuyền".
TRẦN PHƯƠNG
 


Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn
Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi
Ngoài con tim héo em ơi !
Xin trả lại đây, bỏ lại đây
Thép gai giăng với lũy hào sâu
Lổ châu mai với những địa lôi
Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ

Trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi
Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao
Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu
Với cây đa khóm trúc hàng cau
Với con đê có chiếc cầu tre
Ðã bao năm vắng chân anh
Nên trở thành hoang phế rong rêu

Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa
Rồi anh sẽ đón cha mẹ về
Rồi anh sẽ sang thăm nhà em
Với miếng cau, với miếng trầu, ta làm lại từ đầu

Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm
Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn
Bạn anh đó đang say ngủ yên
Xin cám ơn ! Xin cám ơn ! Người nằm xuống

Ðể có một ngày, có một ngày cho chúng mình
Ta lại gặp ta, còn vòng tay
Mở rộng thương mến bao la.
Chuông chùa làng xa, chiều lại vang
Bếp ai lên khói ấm tình thương
Bát cơm rau thắm mối tình quê
Có con trâu, có nương dâu
Thiên đường này mơ ước bao lâu.

Sự kiện: Đoán ý chàng

Đàn ông rất dị ứng với việc phụ nữ rút hộp phấn hay thỏi son và ngắm đi ngắm lại giữa chốn đông người. Nếu đi cùng một người như thế, anh ấy sẽ cảm thấy vô cùng ngại.


Phụ nữ có thể dễ dàng phát hiện ra những lỗi ăn mặc, trang điểm, kiểu tóc xấu xí ở người phụ nữ khác nhưng lại không điều gì ở mình khiến đàn ông thấy hấp dẫn nhất.

Dưới đây là câu trả lời cho chị em phụ nữ nhận ra, đâu là điểm cuốn hút chết người với đàn ông:

Kiểu tóc

Phụ nữ có thể nghĩ, một cô gái với mái tóc chải chuốt cầu kì, xịt keo tạo kiểu bước vào văn phòng sẽ làm cánh đàn ông “chết mê, chết mệt”. Nhưng thực tế là khi nhìn thấy mái đầu được tạo kiểu với gel, cứng ngắc và rườm rà, đàn ông chỉ muốn hất tung nó lên mà thôi. Thứ mà đàn ông thích là một cô gái tóc buông tự nhiên, dàimượt, không xịt keo và nhẹ nhàng tung bay theo mỗi bước chuyển động của cô ấy.

Trang điểm nhẹ nhàng

Phụ nữ có thể trang điểm để che đi khuyết điểm, nếp nhăn hay một vài chỗ xấu xí nào đó mà bạn không hài lòng. Nhưng hãy nhớ, hãy chỉ sử dụng một lớp mỏng, càng tự nhiên càng tốt. Đừng đắp cả “tạ” phấn lên mặt nếu bạn không muốn làm cho anh ấy cảm thấy gớm ghiếc. Sử dụng quá nhiều phấn làm cho da mặt bạn trở nên cứng đờ, thiếu tự nhiên. Thậm chí anh ấy còn sợ phải đặt một nụ hôn lên trên trán hoặc má của bạn vì sợ phấn dính vào miệng.

 10 dieu dan ong bi me hoac boi phu nu - 1
Đàn ông thích một cô gái tóc buông tự nhiên, dài, mệt mượt, không xịt keo và nhẹ nhàng tung bay theo mỗi bước chuyển động của cô ấy. (Ảnh minh họa)

Lông mi
Phụ nữ hay thích dùng mascara để chuốt mi cho dài và cong, nhưng với đàn ông, hình ảnh đó chẳng có gì hấp dẫn cả. Lông mi dày, dính vào nhau, bết lại và nặng nề khiến họ cảm thấy đôi mắt không có gì cuốn hút.

Nếu thực sự lông mi của bạn quá ngắn và cần sự hỗ trợ, hãy chọn loại mascara chất lượng tốt, khô nhanh, không nhòe, không vón cục. Sau khi sử dụng, bạn nên dùng chiếc bàn chải lông mi để làm cho lông mi mềm và tự nhiên hơn.

Với đàn ông, đôi mắt là điểm đáng chú ý, vì thế đừng để hàng lông mi cứng đờ và dính bết che đi sự long lanh của đôi mắt.

Đừng phủ lớp óng ánh lên mắt

Nếu bạn không phải là một người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật hoặc cần phải có sự trang điểm kĩ lưỡng mang tính biểu diễn, cách tốt nhất để hấp dẫn anh ấy là đánh mắt thật tự nhiên. Đừng trang điểm lớp óng ánh lên mắt, nó khiến anh ấy cảm thấy… thật không bình thường.

Răng vàng và hơi thở có mùi

Răng vàng và hơi thở có mùi sẽ không hấp dẫn bất cứ ai chứ đừng nói là đàn ông. Nếu bạn đang rơi vào tình trạng này, bạn thực sự tạo ra một hình ảnh thảm họa trong mắt anh ấy. Có lẽ nguyên nhân đến từ việc vệ sinh kém hoặc bạn cần phải cắt giảm cà phê, trà đen hoặc rượu vang đỏ, thuốc lá để không làm ảnh hưởng tới hơi thở cùng như màu của răng.

Bạn cần phải “điều tra” nguyên nhân của vấn đề và tìm cách làm cho nụ cười trắng sáng và hơi thở thơm tho trở lại.

Chăm sóc cơ thể 

Phụ nữ cần cắt tỉa móng tay, lông chân, lông nách cẩn thận. Việc vệ sinh, chăm sóc cơ thể kém sẽ không thể nào được che lấp bởi việc trang điểm. Hình ảnh bạn trong mắt anh ấy thậm chí còn tồi tệ hơn.

Da khô, da dầu

Người đàn ông chú ý rất nhiều đến làn da. Vì thế, hãy luôn chăm sóc làn da để bờ môi mượt mà, làn da mịn màng.
 10 dieu dan ong bi me hoac boi phu nu - 2
Người đàn ông chú ý rất nhiều đến làn da. Vì thế, hãy luôn chăm sóc làn da để bờ môi mượt mà, làn da mịn màng. (Ảnh minh họa)
Đừng trang điểm nơi công cộng

Đàn ông rất dị ứng với việc phụ nữ rút hộp phấn hay thỏi son và ngắm đi ngắm lại giữa chốn đông người. Nếu đi cùng một người như thế, anh ấy sẽ cảm thấy vô cùng ngại.

Đừng đánh môi quá đậm

Son môi là công cụ tuyệt vời để làm cho đôi môi của bạn đẹp hơn. Nhưng hãy cẩn thận, nếu bạn lạm dụng, sử dụng son môi quá đậm nó sẽ thành kẻ thù của bạn, làm bạn mất đi sự quyến rũ với anh ấy.

Khi đi ra ngoài cùng anh ấy, đừng đánh son quá đậm, nhất là khi đi ăn tốt. Nó có thể làm son dính lên ly, cốc, dính vào thức ăn, thậm chí vào răng. Hình ảnh đó chẳng đẹp chút nào. Và tất nhiên rồi, anh ấy cũng sẽ chẳng muốn hôn bạn vì sợ sau nụ hôn đó, anh ấy cũng chẳng khác gì người đánh son.

Quá nhiều mùi hương hoặc mùi hương đậm đặc

Cái gì quá cũng không tốt. Đàn ông bị chinh phục bởi mùi hương tỏa ra từ người phu nữ nhưng nó không đồng nghĩa với việc mùi hương đậm đặc hoặc lẫn quá nhiều loại mùi vào nhau. Nếu bạn muốn sử dụng, hãy chỉ dùng một lượng nhỏ ở sau cổ, sau tai hoặc cổ tay và chỉ nên dùng một loại 1 lần.

Tình yêu - Giới tính - Những điều đáng ghét của các ông chồngNhững điều đáng ghét của các ông chồngĐàn ông thường mắc phải những sai lầm để rồi làm tổn thương vợ và hạnh phúc gia đình bị lung lay.
Tình yêu - Giới tính - 10 câu hỏi bất cứ chàng trai nào cũng ghét10 câu hỏi bất cứ chàng trai nào cũng ghétĐôi khi những câu hỏi này sẽ là nguyên nhân "giết chết" mối quan hệ của bạn.
Tình yêu - Giới tính - 6 cách để tìm lại tình yêu khi bạn ghét chồng6 cách để tìm lại tình yêu khi bạn ghét chồngBạn không phải là cô bé lọ lem, và chồng bạn cũng không phải là hoàng tử. Hãy chấp nhận con người thật của chàng, cả mặt xấu lẫn...
Theo Sam Sam (Theo Family) (Khám phá)

Từ ngày 17-19/5/2016, Hội nghị Thư viện số ASEAN (ADL) lần thứ 2 đã diễn ra tại Thư viện Quốc gia (TVQG) Singapore, với sự tham dự của các đại biểu đến từ 10 quốc gia ASEAN.

Dự án Thư viện số do Hội đồng Thư viện Singapore điều hành, nhằm kết nối TVQG các nước ASEAN trong lĩnh vực chia sẻ và đóng góp nguồn tài liệu số đối với cộng đồng chung ASEAN và toàn cầu. Phiên họp chính của Hội nghị diễn ra sôi nổi với các báo cáo và thảo luận đến từ TVQG các nước. Hội nghị ghi nhận các kết quả tích cực của TVQG các nước ASEAN, trong đó TVQG Việt Nam, TVQG Thái Lan và TVQG Singapore là 03 quốc gia có những đóng góp to lớn và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cao trong việc cung cấp dữ liệu đến Ban Quản lý dự án.

Bên lề Hội nghị, các đại biểu đã được nghe đại diện TVQG Singapore báo cáo vắn tắt kế hoạch phát triển thư viện số của Singapore; tham quan và làm việc tại TVQG Singapore, Thư viện Đại học Công nghệ Nan Yang, Thư viện Đại học Công nghệ và Mỹ thuật Singapore.

Hình ảnh cùng sự kiện:
Đại diện TVQG Việt Nam trình bày tham luận tại Hội nghị
Ông Nguyễn Xuân Dũng – Phó Giám đốc TVQG Việt Nam tham quan và làm việc tại Đại học Kỹ thuật Nan Yang
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Nguồn: Thư viện số ASEAN lần thứ 2

__________
Tin và ảnh: Nguyễn Lương Ninh

Đọc thêm cùng chuyên mục:

Cụ Ngáo là một đao phủ khét tiếng thời Nguyễn mà tất thảy trẻ con khi bị dọa đều khiếp vía.

“Cụ Ngáo” là nhân vật bí hiểm, sống đơn độc bằng nghề chặt đầu tử, gắn với địa danh “cống chém” An Hòa.
 
Ở Huế, nhiều bậc phụ huynh thường lấy cái tên “cụ Ngáo” ra để dọa trẻ con đang khóc hoặc không nghe lời. Vậy đây là nhân vật có thật hay chỉ là nhân vật hư câu?
 
Sự tích "Cụ Ngáo"
 
Theo tìm hiểu của PV VTC News, Cụ Ngáo là nhân vật có thật và là một đao phủ khét tiếng thời Nguyễn. “Cụ Ngáo” từng hạ đao lấy đi sinh mạng của nhiều tử tù. Danh của đao phủ này gắn liền với địa danh cống chém An Hòa và cồn Mả Thí (nay thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế).
 
Là nhân vật có thực nhưng “cụ Ngáo” không được sử sách ghi chép lại nhiều. Cũng không ai rõ tên thật của “cụ Ngáo” là gì? Là ai? Sinh sống ở đâu?. Bởi, “cụ Ngáo” không gia đình, không người thân thích sống bằng nghề “chặt đầu” khi còn trẻ và bán thịt chó lúc già.
 
Ở mảnh đất được mệnh danh là “kinh đô Phật giáo” với 70% dân số theo đạo Phật như Huế thì hai nghề này khó được mọi người chấp nhận. Cuộc đời của nhân vật này chỉ được nhà thờ Tố Hữu (quê ở Huế) miêu tả ngắn gọn trong bài thơ “Hỏi cụ Ngáo”:
 
“Nghe nói ngày xưa lão chặt đầu,
Đầu xanh, đầu bạc tội gì đâu?
Sao không chặt hết đầu bao đứa,
Mũ mão rồng nay, áo phượng chầu?
Nay lão vác tròng đi thịt chó,
Chó vàng, chó mực tội gì đâu?
Sao không chặt hết bao con đó,
Lém gót giày Tây, béo mượt đâu?”
 
Là nhân vật bí hiểm, không gốc tích, không tướng mạo, chân dung rõ ràng, nhưng lại là người không ai không biết, bởi mỗi lần dọa trẻ con, người lớn vẫn thường lôi danh “cụ Ngáo” ra dọa. Thế nên, trong tâm hồn thơ dại, nhiều đứa trẻ đã biết đến tên “cụ Ngáo”.
 
Tìm hiểu tù các bậc cao niên nhất xứ Huế được biết, “cụ Ngáo” có nhà ở ngay dưới Thượng Thành, đường Tôn Nhơn xưa.
 
Ly ky chuyen dao phu khet tieng trieu Nguyen
Một đao phủ thời Nguyễn (nguồn: Internet).
Có người nói, mỗi ngày “cụ” rời nhà khi còn tinh mơ và trở về khi mặt trời đã tắt, không ai biết “cụ” đi đâu, làm gì cả ngày hôm đó. Chỉ biết đều đặn mỗi ngày hai lượt, lũ chó ở đường Tôn Nhơn có hai lần sủa inh ỏi khi “cụ Ngáo” đi và về. Chúng sủa bởi chúng vừa sợ hãi vừa tức tối căm thù cái mùi “tử khí” toát ra từ con người “cụ”.
 
Nhưng có người tỉ mẫn hơn, theo dõi và biết được cụ cả ngày đi bắt chó chạy rong ngoài đường, chiều ghé bến Thương Bạc (khi ấy còn hoang vu lau lách, chứ chưa xa hoa phố thị như hiện tại) để làm thịt.
Khi tất cả sạch sẽ, cụ treo lủng lẳng con chó trắng phau sau lưng, băng qua cửa Thượng Tứ, theo đường Tôn Nhơn trở về nhà trong màn đêm nhá nhem.
 
Ăn thịt và làm thịt chó bán nên người cụ nặng mùi, bởi thế, cụ đi đến đâu, lũ chó cũng chạy theo khinh nhờn sủa vang trời. Lũ trẻ con trong Thành Nội ngày đó đặt cả vè, vừa chạy theo vừa đọc: “Xách bót tờ phơi/Đi chơi cụ Ngáo/Ăn cháo không tiền/Cởi liền áo ra…”
 
Nhà Nghiên cứu Huế Hồ Tấn Phan kể, trong các câu chuyện dân gian Huế lưu truyền, “cụ Ngáo” là đao phủ nổi tiếng "chém khéo, chém ngọt". Món nghề làm nên thương hiệu cụ Ngáo là món "chém treo ngành".
 
Để luyện ngón “chém đầu treo ngành”, hàng đêm cụ Ngáo vẫn lên trên vườn chuối trên Thượng Thành luyện chém cho ngọt tay vừa chặt hát “Sống không thù nhau, chết không oán nhau”. Chi tiết này làm cho chúng ta liên tưởng đến nhân vật Bát Lê trong “Chém treo ngành” in trong tập “Vang bóng một thời” của nhà văn Nguyễn Tuân.
 
Mỗi khi chính quyền Pháp thuê cụ ra pháp trường Cống Chém An Hòa để chém đầu tử tội, cụ thường ăn vận áo quần bóng bẩy, thắt đai đỏ ngang hông, tuốt gươm sáng loáng.
 
Sau khi chém đầu phạm nhân, tối, “cụ Ngáo” lại biện một lễ cau trầu rượu xuống miếu Âm Hồn ở ngã tư Anh Danh để xá tội.
 
Bị báo ứng, cuối đời "Cụ Ngáo" điên loạn?
 
Về cuối đời, cụ Ngáo sống trong điên loạn. Trong mắt nhiều người ở Huế, “cụ Ngáo” là một nhân vật vừa đáng thương, vừa đáng sợ, vừa đáng khinh.
 
Nghề của cụ Ngáo dẫn đến việc điên loạn cuối đời là không lạ. Suy cho cùng, cụ chỉ Ngáo đáng thương còn đáng sợ và đáng khinh phải là những kẻ gây nên các tội ác và những kẻ lạm dụng quyền lực, bày đặt nhân danh công lý để trừng phạt những oan sai.
 
Người Anh có thành ngữ “Hangman’s wages” (đồng lương của người treo cổ) để nhắc đến đồng lương cao vợi của đao phủ. Còn cụ Ngáo, chắc đồng lương của cụ cũng chẳng được bao nhiêu nên phải sống ngắc ngoải lúc về già bằng nghề thịt chó.
 
Một người cao niên ở xứ Huế có biết về danh "cụ Ngáo" bình luận: “Hạng người đó quá khổ, làm ngày mô ăn ngày nớ, cực chẳng đã mới đi chém người chứ ai ưng".
 
“Chỗ ni linh thiêng lắm, đi qua đây đừng nói chuyện, đừng ngó ngang ngó dọc, cúi mặt mà đi nghe con”.
Đó là câu nói mà các bà cao tuổi xứ Huế vẫn thường căn dặn con cháu khi đi qua vùng cống chém um tùm cỏ dại, hoang liêu lau lách xưa thuộc xã Hương Cần, huyện Hương Trà nay thuộc Phường An Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tìm hiểu ra được biết, chỗ này xưa là pháp trường, chôn nhiều tử tội, lắm oan hồn.
 
Một người cao tuổi sống gần cống An Hòa kể: “Già rồi lẩn thẩn nhớ nhớ quên quên, nhưng mà có mấy chuyện không thể quên được. Cậu thấy bụi tre nớ không, xưa chừ không ai dám phá đó cậu, bởi sau khi xử trảm tử tội, chính quyền ngày xưa cho bêu đầu lên đọt tre để răn chúng. 
 
“Khu vực Cống Chém ngày nay khác xưa lắm rồi, bãi đất hoang với mênh mông nghĩa địa giờ đã mọc lên nhà xưởng, cây xăng, lớp lớp nhà ở và cả cái cống tròn xây bằng gạch xưa giờ cũng phủ bê tông nhựa dày cả mấy mét.
 
Một số tài liệu nói, Huế xưa có bốn pháp trường: Cống Chém, An Hòa, Bãi Dâu, Giáo họ Thợ Đúc.
Nhắc đến pháp trường Cống Chém có ý phân biệt với pháp trường An Hòa (Chợ An Hòa xưa và Trường tiểu học An Hòa ngày nay).
 
Tuy nhiên, theo tác giả Hồ Đăng Thanh Ngọc, trong bài nghiên cứu “Huyền sử cống chém” nói các tài liệu này chưa chắc đúng bởi, bởi khu vực Cống Chém và chợ An Hòa xưa nay vốn chỉ cách nhau vài trăm mét.
 
Ly ky chuyen dao phu khet tieng trieu Nguyen-Hinh-2
Khu vực cống An Hòa ngày nay. (Ảnh: Lê Công Thành).

Có khi, việc xử tử còn tùy tiện tiến hành ngay tại khu vực đầu cầu An Hòa, như trường hợp xử Chân phước Micae Hồ Đình Huy ngày 22/5/1857, một đại quan của triều đình Tự Đức can tội truyền đạo trong cái thời bế quan tỏa cảng.
 
Vậy nên, một số nhà nghiên cứu cho rằng, có thể xác định pháp trường Cống Chém chạy dọc từ đầu cầu An Hòa đến Trường tiểu học An Hòa nay, tức chợ An Hòa xưa.
 
Tuy nhiên, chưa ai xác định pháp trường Cống Chém có từ khi nào. Có người bảo trong “Suvernir de Annam của Baille” có một đoạn tả cảnh tử tội đưa ra pháp trường.
 
Lục tìm trong y văn của J.B.Roux nhắc đến pháp trường Cống Chém ngày 28/11/1835, triều Nguyễn tiến hành xử trảm Chân phước Anree Trông cũng vì can tội truyền đạo. Như vậy, có thể Cống Chém đã hình thành từ trước đó nữa, để triều Nguyễn ra oai, thiết nghi quyền lực.
 
Các trang viết hiện tồn ghi nhận ở Cống Chém ngày xưa, có hai hình thức xử trảm: Chém đầu và xử giảo (thắt cổ bằng dây thừng). Đây cũng là nơi hai nhà cách mạng Trần Cao Vân và Thái Phiên bị trảm quyết.
Theo VTC News
 

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.