Latest Post

duy tân, nguyễn phúc, cuộc sống, lạc quan

Dòng đời cứ trôi và thời gian cứ đi qua cùng cảm xúc. Có những ai đã lặng lẽ cống hiến cuộc đời mình cho những điều nhỏ bé vĩ đại và có những ai vẫn vẫy vùng trong cuộc sống còn chưa tìm thấy lối ra... Lối ra để đi qua cái tuổi chông chênh của trưởng thành và trẻ nhỏ, của chín chắn và cứ-mặc-đi!

Mỗi ngày là một bước chân. Và có những ngày bước chân như lạc nhịp, hay trong cái tuổi chông chênh này, bước chân sẽ hay lạc nhịp như thế!? Muốn bước thật chậm, nhưng cũng muốn thật nhanh, muốn bước thật chắc nhưng cũng muốn thật nhanh. Muốn! Muốn! và Muốn! - Cái tuổi của Muốn! quá nhiều thứ, quá nhiều điều và tất cả lại trở thành một mớ bòng bong hỗn độn chẳng thấy rõ đâu là đâu...

Cuộc sống cơm áo gạo tiền sẽ luôn đầy những lo âu và suy nghĩ, nhưng nếu chỉ trầm mình trong nghĩ suy và âu lo mà không thể gượng nổi một nụ cười, cuộc đời sẽ bị cuộc sống đưa về đâu!? Có những bước chân mà đôi khi muốn gượng gạo kèm theo một nụ cười, cũng thật khó. Có những ngày dù bão hay nắng, dù mưa hay không mưa, và dù muốn cũng không nở được cho môi một nụ cười. Suy Nghĩ à và Hành Động nữa, các ngươi thật ích kỷ khi giấu đi đã bao lâu nay một nụ cười Lạc Quan của ngày xưa đâu mât, đâu mất rồi hả hai đứa!?

Có những lúc, dòng đời vội vã đẩy đưa ta đi ngang qua một người không may mắn của số phận. Đôi mắt mãi chìm đắm trong bóng tối không ánh sáng cả cuộc đời. Đôi chân, cánh tay mãi mãi đã là một phần của cát bụi trước khi cả thể xác trở về cát bụi. Nhìn lại mình, thật đầy đủ. Rồi lúc đó lại thấy bản thân mình thật may mắn, được số phận ưu ái hơn những con người kia, vậy cớ sao mà không nỗ lực, không cố gắng, không kiên trì, không quyết tâm... làm tất cả để thành công!? Nhưng rồi, mọi chuyện lại trở về của những ngày bước chân lạc nhịp...

Đôi khi muốn hét thật to, nhưng hét xong rồi sẽ làm gì? Chẳng biết! Hằng ngày đọc báo, xem tin và kìa, bao nhiêu những con người đã có cho mình những cơ ngơi bạc tỷ, bất chấp thủ đoạn và cách làm. Chẳng liên quan! Nhưng số tiền họ có, khiến ta cảm thấy thèm thuồng, mong muốn phải có, nhưng có đánh đổi nhân bản của 4 năm kiên trì mà đánh đổi hay chăng??? Chuyện đó quá lớn lao, và dù vẫn có trên báo đó, nhưng tuổi 27 với cơ ngơi bạc tỷ thì chỉ là chuyện cổ tích giữa đời thời.

Chông chênh! Và chính trong lúc chông chênh này lại cảm giác thật thèm thuồng một định hướng tương lai, một cách sống mạnh mẽ, một con đường được vạch ra rõ ràng. Nhưng kết luận cuối cùng, thành hay bại, là do chính bản thân ta quyết định. Sắc đẹp, tiền tài, danh vọng cũng chỉ là những cái sẽ đến, sẽ qua và sẽ mất. Vậy càng hay, torng chính khi Chông Chênh này, sẽ chọn cho mình con đường nào để đi tiếp đây? Phải chọn, hoặc dù không hay phải chọn, thì dòng đời vẫn vội vã như trước đây nó vẫn vậy!

Thôi dừng lại, một chút thôi, ngay lúc này, khi viết ra những dòng này. Sẽ tiếp tục và bắt đầu lại, từ hôm nay với những gì năm xưa đã lỡ để quên đâu đó. Tìm lại thôi, Lạc Quan - mi ở đâu, mi còn trốn hoài trong Tuổi Thơ làm gì mà không chịu buông ra mà đến với Hiện Tại!? Đến đây, Lạc Quan, chúng ta cùng đi tìm Thành Công, nếu lỡ gặp Mẹ của hắn, nhớ chào hỏi lễ phép và đừng thưa chuyện quá lâu kể sẽ trễ chuyến tàu cuối, mà phải nhanh chân lên mà đi tìm Thành Công cho sớm nhất có thể!

Nào, Lạc Quan, tạm biệt Tuổi Thơ đi, chúng ta lên đường nào! Còn Tuổi Thơ, cậu hạnh phúc thế đủ rồi, phải cho Hiện Tại và cả Tương Lai cùng hạnh phúc với cậu nữa chứ, đúng không!!!

Lạc Quan, chúng ta đi!


Gia đình là một nền tảng để xây dựng nên con người. Thật may mắn, thật hạnh phúc cho những ai khi sinh ra đã có đầy đủ cả cha và mẹ. Và hạnh phúc gấp ngàn lần hơn khi được lớn lên trong vòng tay yêu thương của gia đình... Hạnh phúc, đơn giản là nụ cười, là nơi mà mỗi khi cuộc sống phải vướng muộn phiền, lo toan, chúng ta sẽ biết có một nơi, có một chỗ, có những người để tìm đến, để trở về và để được lắng nghe.

Nhưng thật ra, dù không có những điều trên đi chăng nữa, cũng không phải là cuộc đời bất hạnh. Vì bất hạnh hay hạnh phúc là một sự lựa chọn, và mỗi chúng ta đều có sự lựa chọn cho riêng mình.

Khi nhìn mọi sự, mọi người ở hiện tại và bất giác ta nghĩ về quá khứ, nhớ về những gì đã qua và dâng lên trong mình một nỗi niềm khó tả... Rồi xen lẫn trong những đám mây ký ức lẫn lộn đầy cảm xúc đó, ta cảm thấy như có có chút cay cay của lòng hối hận, của sự ăn năn... Vậy tức là rõ ràng rồi, trong quá khư được tô sắc đầy kỷ niệm màu hồng, ta đã nhìn ra những lầm lỗi của tuổi thơ, của những ngày tưởng mình có gia đình, của những ngày còn có ông bà, ngôi nhà và những giây phút chẳng lo toan.

Cuộc sống này phải nghiêm túc nhưng lắm lúc lại giống trò đùa, trò chơi của Tạo Hóa đối với hàng tỷ con người. Khi còn nhỏ ta mong mình lớn, để một ngày rời ra khỏi ngôi nhà đã nuôi nấng mình, đến những nơi ta muốn đến, sống với những điều ta muốn sống. Rồi khi lớn lên, ta lại mong mình bé lại, được nhỏ nhoi trong những lời than trách yêu thương, trong những bữa cơm với món ăn mà mình không bao giờ có quyền quyết định - thỉnh thoảng đôi khi cũng sẽ được tham vấn ý kiến một chút...!


Và còn một trò đùa khác, Tạo Hóa à, đến bây giờ tôi mới nhận ra. Đó là những lỗi lầm không bao giờ được nhận ra khi ta làm ra nó, phải mất một thời gian lâu, khi ta chợt nhìn thấy mình của ngày xưa ở hiện tại, ta mới biết mình đã sai... Chắc trên dưới 10 năm có lẽ, ta mới nhận ra và hành trình hối lỗi bắt đầu cho đến khi những năm sau nhắm mắt xuôi tay chẳng biết có kết thúc hành trình đó được hay không!? Mà dẫu, có sống thọ đến bao lâu chăng nữa, thì đã bảo là trò đùa của Tạo Hóa rồi, thì hành trình hối lỗi đó sao kết thúc được!? Vì có ai tắm hai lần trên một dòng sông đâu, và ông bà mất rồi sao nghe được tiếng nói của cháu con?

Nhưng không sao, người chết có của cuộc sống của người chết và người sống có cuộc sống của người sống. Cuộc sống là cuộc lữ hành trần thế, chạy đua với thời gian và để tiến mình về phía trước. Giây phút ta nhận ra trong mình dâng lên niềm hối lỗi vì những ngày xưa thơ dại, có lẽ cũng giống như một chặng dừng chân, để nghĩ mệt, để tiếp thêm sức mạnh, để tiếp thêm niềm tin rồi vững vàng bước tiếp, bước nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và vững vàng hơn.

Mệt vì cuộc sống đầy bon chen, lo toan và muộn phiền giờ đây ta đã được có cho mình một giây phút nhìn lại, hối lỗi với bản thân, xả hết những nhọc nhằn, rồi bắt đầu tiếp hành trình mới mà không còn những vướng bận cũ kỹ, xa xôi nữa.

Sức mạnh từ những điều được gọi là gia đình, từ những điều thiêng liêng mà ngay từ đầu số phận đã ưu ái dành cho ta. Từ trong những ký ức sâu thẳm của tuổi thơ, với bao điều được dạy dỗ để sống nên người, ta được dịp nhìn lại, tự hứa sẽ làm tốt hơn và bước đi tiếp trên hành trình của mình!

Không sao cả! Mọi thứ vẫn ổn! Những gì không có, ta sẽ tự làm ra. Những gì không thể có, ta sẽ tìm điều thay thế khác. Những khó khăn không bao giờ thôi dội tới, thì ta cũng sẽ không bao giờ thôi can đảm đón nhận và xử lý nó. Kỷ niệm đã được phủ đầy một lớp bụi thời gian, hiện tại mới là cuộc sống của chúng ta và tương lai là điều ta có thể xây dựng. Hãy để quá khứ với những kỷ niệm đẹp và những điều hối lỗi ở hiện tại được ngủ yên trong dòng suối thời gian. Hãy sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại với gia đình, tình yêu và tình thân ta đang có. Hãy nhìn về tương lai, bắt đầu xây dựng nó bằng những điều ta sẽ làm từ hiện tại hôm nay...!

Ngày xưa ơi, cho tôi gửi một lời xin lỗi...!



Sài Gòn mấy hôm nay ảnh hưởng của bão ngoài miền Trung, nên sáng nào hầu như nhẹ thì trời âm u, không chút nắng, còn nặng thì mưa thối đất thối trời. Nghĩ vậy chắc cũng may cho mình được chút, trời không oi bức nên giấc ngủ của em được tốt hơn... Chỉ tội ở quê nhà, nhà mình nghe nói chuồng bò bị sập, làng xóng ít nhà nào là không bị hư hại. Bão tới, người mình sống đã quen rồi, nhưng vẫn khổ thay vì nó!


Trở lại Sài Gòn, nhộn nhịp, sôi động là vậy, mà giờ không nắng chỉ âm u, lại làm cho ai cũng thấy có cái gì đó khác. Nhưng, chính tôi đã khác rồi. Ngày sinh viên, ngày còn thơ thẩn cứ hay lấy cái không khí xung quanh mà làm thơ, làm văn, làm cảm xúc rồi viết ra để lưu lại cho mình mấy dòng tự sự. Bây giờ thì khác, mà chắc hầu hết người ta là thế, cuộc sống này vẫn chảy thôi như sông vẫn chảy về biển mặc dù có bão mưa to lớn thế nào. Sài Gòn có nắng hay không, và mưa có lớn nhường nào, thời giản vẫn chạy và dòng người vẫn đi...Thấm thoát mà trôi nhanh, nhiều thứ đã trôi qua nhanh...

Mới ngày nào lên sài Gòn, giờ thoát đã tròn 9 năm.
Mới ngày nào rời ghế giảng đường, giờ đã hơn 5 năm.
Mới ngày nào cầm tay em đi qua con đường sau lưng nhà thờ, giờ đã 8 năm.
Và mới ngày nào lang thang một mình đây đó của Sài Gòn, giờ đã có em và một bé thiên thần sắp đến, sẽ cùng tôi bước hết cả cuộc đời.

Thời gian trôi nhanh và kinh nghiệm, trải nghiệm cuộc sống bởi thế cũng nhiều. Càng lớn càng nghiệm ra rằng, khó khăn lớn nhất vẫn là làm chủ chính mình. Vì làm chủ người khác thì dễ thôi, chí ít là có tiền, có quyền là được cũng mặt bên ngoài. Nhưng làm chủ mình trong cả hành động và suy nghĩ thì lại là mới khó. Có nhiều cái phải vấp ngã rồi, người ta mới có thể tự cảm nhận mà hiểu ra được những điều mà trước đó tưởng chừng như mình đã hiểu. Âu cũng là điều bình thường của cuộc sống, thành bại hay trưởng thành cũng chỉ khác nhau mỗi như thế này.

Còn mấy tháng nữa, những ngày trên ghế Học viện sẽ kết thúc. Thật lòng cứ mong được mãi thế này để ê a những ngày vui tươi trong lớp học, để căng thẳng trong những điều đã được báo trước. Nhưng như thế thì cuộc đời sẽ buồn chán lắm. Ai rồi cũng phải lớn, ai rồi cũng phải trưởng thành và đều phải đặt cho mình một cái hẹn với thành công. Những kỷ niệm đẹp thì chỉ là kỷ niệm, chỉ có hiện tại và tương lai mới mang những ý nghĩa riêng của nó.

Khi vấp ngã, quan trọng phải biết đứng lên. Khi thấy bản thân mình chưa cố gắng hết sức, thì hãy hết sức đi mà đừng chần chừ. Thời gian của mình chưa đến, thì hãy chuẩn bị để khi nó đến mình sẽ không bị bất ngờ rồi bỏ qua cơ hội.

Không sao cả, vấp ngã thì đứng lên, thất bại thì làm lại nhưng quan trọng là phải tự tin mà bước tiếp mạnh mẽ hơn.


Một phút lắng đọng cho tâm hồn cảm thấy nhẹ nhàng và thư thả. Cuộc sống vội vã nên mấy ai chẳng muốn điều này? Dẫu bước chân và ý chí có mạnh mẽ đến đâu, chúng ta cũng mong mỏi cho chính mình một giây phút như thế. Dòng đời ngược xuôi, người đi tấp nập, cuộc sống bộn bề, đời người lo toan và phận người ngắn ngủi.

Tôi muốn viết nhưng khi bắt đầu tôi chẳng biết mình sẽ viết gì?

Rồi dòng đời, rồi cuộc sống, rồi phận người và rồi tôi nhớ Bạn...!

Bạn ra đi trong cái tuổi đẹp nhất của đời người. Trong cái tuổi chông chênh của trưởng thành và trẻ dại, của chững chạc và cuồng chân... Bạn ra đi khi gia đình vừa chớm nở. Khi đứa trẻ chưa í ơi rõ hai tiếng mẹ cha và ánh mắt thơ ngây đầy hy vọng với vầng khăn tang quấn trên đầu... Khi đứa trẻ còn mỉm cười yêu thương bên Bạn đang xanh màu Hy vọng của chồi xanh thiên đường.

Cái tuổi của trạm dừng nghỉ ngơi một đời người để chuẩn bị cho nửa phần đời còn lại vẫy vùng trong ước mơ và hoài bảo. Nhưng với Bạn đó cũng là trạm dừng chân cuối cùng. Bạn ra đi khi chúng ta đang lớn, khi những đứa trẻ năm nào bên giáo đường tuổi thơ đang trên đường trưởng thành. Bạn ra đi để lại một con đường đầy sỏi đá và hoa hồng, để chúng tôi trong từng nhịp bước không nguôi nhớ thương về bạn. Đấng Thiêng liêng trong niềm tin thổn thửa của nhịp đập con tim căng tràn nhựa sống giờ đây đã đón Bạn về trong nỗi tiếc thương của bạn bè, người thân quanh Bạn...

Chúng tôi ở lại, giữ bạn trong tim, nhớ bạn trong lòng và biết thật rồi giờ đây ký ức tuổi thơ đã đóng đinh mãi một người Bạn yêu thương không bao giờ còn lớn nữa cùng chúng tôi...

Ai trong mỗi chúng ta cũng có một vùng trời ký ức của tuổi thơ. Nơi vùng trời đó, mỗi khi cuộc sống đầy bộn bề lo toan và khó khăn, chúng ta lại nghĩ về, lại tìm về và như được tiếp thêm cho chính mình nhựa sống mà tiếp bước hành trình. Cuộc sống cần chúng ta mơ những giấc mơ thật lớn và ước ao những điều lớn lao. Để chúng ta sẽ cố gắng và bước đi với tinh thần và khát kaho mạnh mẽ nhất. Để cuộc đời chúng ta đẹp cùng cuộc đời đẹp của tất cả mọi người xung quanh.

Trong cái tuổi của chông chênh gần nửa đời người, có người đã dừng bước và về nơi vĩnh hằng, có người đang dò dẫm và bước những bước vô tư, nhưng cũng có những người đang vững chãi hay cuồng bước những đôi chân về phía vượt qua chông chênh. Ai cũng có những bước đi của mình với Niềm tin và Hy vọng. Chẳng ai may mắn hơn ai, chẳng ai nỗ lực hơn ai? Cuộc sống này cần cả hai điều đó. Tuổi chông chênh này cần cả hai điều đó.

Người ra đi về cõi vĩnh hằng nghĩa là đã xong con đường cuộc đời này. Người ở lại tiếp bước trên con đường bản thân để đến và đạt lấy những giấc mơ của mình mà mang về vui say trong cõi vĩnh hằng mà ai rồi cũng sẽ đến.

Cuộc sống có khó khăn thì ý chí mới được trui rèn. Người sống có nghị lực thì mới đạt được những giấc mơ.

Cõi vĩnh hằng thì ai rồi cũng sẽ đến.

Nhưng những giấc mơ thì không phải ai cũng may mắn được bước đến.

Mỗi người có một hành trình riêng và hãy hoàn thành hành trình đó.

Tạm biệt Bạn tôi. Cảm ơn Bạn vì tất cả!


Thánh Phero là vị Giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội Công giáo hoàn cầu. Ngài được Chúa Giêsu chọn làm Giáo hoàng bằng câu chuyện nổi tiếng 3 lần hỏi Ngài có yêu mến Chúa không. Trong câu chuyện đó, ở lần hỏi thứ ba, Kinh thánh diễn tả lại rằng Thánh Phero đã buồn phiền vì Thầy mình hỏi mình có yêu mến Thầy hay không đến ba lần. Lần thứ ba, Thánh Phero đã trả lời khác với hai lần trước:

- Thưa Thầy, Thầy biết rõ con yêu mến Thầy. - Sau đó, Chúa đặt Ngài làm Giáo hoàng và trao cho Ngài "Chìa khóa nước Thiên Đàng".

Thánh Phero là thủ lãnh Nhóm 12 Tông đồ được Chúa tuyển chọn. Đó là những người nhiệt thành và phù hợp với giáo lý Tình yêu mà Chúa đang ra giảng. Và Thánh Phero là người đứng đầu nhóm những người nhiệt thành đó. Ngoại trừ Juda - Kẻ Phản Bội - mà nay đã trở thành câu chuyện kinh điển về lòng trung thành, ít ai biết rằng khi Chúa bị bắt và chuẩn bị Chịu chết, người thủ lãnh Tông đồ, người được Chúa yêu thương, tin tưởng đó lại chính là người chối Chúa ba lần.

Kinh thánh đã chép lại rằng, khi Chúa bị bắt, các Tông đồ đều bỏ trốn, trốn chạy vì sợ quân linh cũng sẽ bắt luôn mình. Duy chỉ có 3 người đã quay lại và đi theo 3 cách khác nhau.

Thánh Gioan - Tông đồ trẻ nhất, đã tìm cách qua sự quen biết với các đầy tớ ở nơi giam giữ Chúa để cùng dắt Phero vào bên trong đền thờ và đến gần sát với nơi Chúa đang ngồi chờ xét xử, xung quanh lúc đó có rất nhiều người. Và người thứ ba, là Juda - kẻ đã bán Chúa nhưng đã đến gặp những kẻ chủ mưu, ném bỏ 30 đồng bạc của cái giá phản Thầy và đi thắt cổ chết.


Thánh Gioan có sự quen biết, nhưng đã không đến gần với Thầy mình như thể cũng để cho Thầy còn chút an ủi. Juda đã theo Chúa suốt cả hành trình 3 năm rao giảng, được chọn vào Nhóm 12 và bán Thầy. Juda cũng theo Chúa đến nơi Người bị giam giữ, nhưng đã chạy đến với những kẻ lợi dụng mình để hại Thầy mình. Juda hối hận nhưng không tìm đến Thiên Chúa, không nhớ những Lời và Tình yêu mà mình đã có suốt 3 năm qua, Juda thắt cổ tự vẫn và không tin vào Lòng Thương Xót của Chúa sẽ tha thứ cho mình.

Nhưng Phero - người Tông đồ trưởng Chúa yêu, đã đến gần sát và mặt đối mặt với Thầy mình hơn tất cả. Trong giây phút Tình Yêu Cứu Độ đang sắp gần trọn vẹn như Lời Hứa năm xưa ở Vườn Eden của Chúa Cha nhân từ, Phero đã ở đó và là người bạn đồng hành với Con Thiên Chúa bằng tất cả những nỗi niềm của một người vừa trốn chạy, nhưng còn hơn thế nữa.

Một người đến và hỏi Ông có biết Chúa không? Ông trả lời Không!

Người thứ hai đến hỏi Ông có biết Chúa không? Ông trả lời Không?

Và người thứ ba đến quả quyết ông biết Chúa. Ông thề là Không?

Trong Bữa tiệc Ly của buổi chiều hôm Chúa bị bắt, Ngài đã nói với Phero rằng "Trước khi gà gáy, anh sẽ chối Thầy ba lần!" - và ngay lúc lời thề của Phero vừa dứt, gà đã gáy!


Thánh Phero nhìn Chúa với đôi mắt đang nhìn mình. Giống như Juda, Phero đã cùng Thầy và Nhóm 12 rong ruổi trên con đường rao giảng giáo lý Tình yêu suốt 3 năm qua, đã cùng nghe, cùng nghĩ, cùng sống, cùng cầu nguyện với người Thầy của mình. Khác với Juda, Phero đã can đảm sau phút hoảng sợ của "đàn chiên bị đánh tan tác", ông đã tìm đến Chúa - dù chỉ là vòng lẩn quẩn tránh mặt Chúa của mình, ông đã chối Chúa đến 3 lần - như lời Chúa đã nói trước, ông đã nghe tiếng gà gáy, đã nhìn và tìm đến anh mắt Thương Xót của Thầy mình. 

Chúa đã nhìn Ông bằng ánh mắt của Lòng Thương Xót. Lòng Ông lúc này nhẹ nhõm và Ông chạy đi, Ông khóc với tất cả những cảm xúc yêu thương mà Chúa đã dành cho mình.

Sau Ngày chúa chịu chết, Ông ở cùng các anh em Tông đồ và Đức Maria. Ông đã nghĩ gì trong 3 ngày ây? Khi nghe các phụ nữ đến viếng mộ Chúa và hốt hoảng trở về báo rằng ngôi mộ trống, Ông đã chạy đi cùng Gioan. Nhưng nếu Gioan đứng lên bên ngoài cửa mộ, thì người Tông đồ trưởng - vị Giáo hoàng tiên khởi của Hội thánh đã tiến vào bên trong, khóc thương hối lỗi lần thứ hai và chính thức lãnh nhận sứ mệnh mà Chúa đã giao phó.


Chúa đã sống lại, Ngài hiện ra với các Tông đồ sau đó suốt 40 ngày và Ngài lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha toàn năng, kết thúc thời gian chờ đợi Lời Hứa và mở ra thời đại mới của Nhân loại - thời đại sống để trở về với quê hương Thiên quốc.

Juda đã bán Chúa với giá 30 đồng bạc. Juda đã hối hận vì bán một người công chính và ném trả 30 đồng bạc đó cho những kẻ ác ôn hại Thầy mình. Juda đã đi thắt cổ tự vẫn như sự bế tắc của cuộc đời mình.

Phero đã chối Thầy 3 lần. Phero đã hối hận vì chối bỏ người đã yêu thương mình và đã khóc trong nỗi uất hận yếu hèn của thân phận con người. Phero đã tìm đến Chúa, đã hối hận và cuộc đời Phero đã không đi vào bế tắc như Juda. Đó là lý do vì sao Chúa đã chọn Phero làm vị Giáo hoàng tiên khởi.

Lúc cuối đời, khi Hội thánh trong thành Jerusalem bị bách hại quá nhiều, ông có ý trốn đi nơi khác. Khi vừa ra đến cửa thành, ông thấy Chúa đi ngược vào trong. Ông hỏi Chúa rằng Ngài đi đâu? Chúa nói Người vào thành để chết một lần nữa. Và năm đó, năm 64 sau công nguyên, Thánh Phero chịu tử vì đạo tại Jerusalem nơi Thầy mình đã Chịu nạn. Nhưng khi chết, Ông muốn mình bị đóng đi ngược vì nói rằng Ông không xứng đáng để được giống như cách Chúa đã chết.


Phero và Juda - hai Tông đồ trong Nhóm 12 - hai con người đã được Chúa chọn cho hành trình 3 năm rao giảng giáo lý Tình yêu. Khi biến cố Cứu chuộc xảy đến, hai người đều phạm những tội lỗi như nhau. Nhưng một người chỉ dựa vào sức mạnh của bản thân để rồi đi đến sự bế tắc và tự kết liễu cuộc đời mình trong tuyệt vọng. Còn một người đã tìm đến Lòng Thương Xót của Chúa để hối lỗi ăn năn và tìm thấy ánh sáng cho cuộc đời mình để rồi cuộc đời được kết thúc trong Hy vọng và niềm vui Chết Vì Tình Yêu.

Hai cuộc đời này là hai sự lựa chọn cho chính chúng ta.

Khi vấp ngã và cuộc đời bế tắc, chúng ta sẽ là ai? Là Juda hay Phero?

Là người chỉ dựa vào sức mình rồi đi đến bế tắc,

Hay là người biết cậy dựa vào Thiên Chúa tình yêu và tìm thấy Niềm Hy vọng cho cuộc đời mình!

Đó là sự lựa chọn mà Thiên Chúa dành cho mỗi chúng ta!



Tôi để lại dưới đây lời tự sự của Bạn - người Bạn tôi yêu quý và trân trọng. Chúng ta cùng chung niềm tin vào một Thiên Chúa là Cha nhân lành và giàu lòng xót thương, nhưng nơi Bạn mới cho tôi thấy rõ niềm tin và hình ảnh của người Cha nhân lành ấy.

Mỗi người chúng ta sinh ra đều vì một lý do nào đó. Và cuộc đời của chúng ta là hành trình để đi tìm lý do đó. Bạn đã mang đến cho chúng tôi niềm vui khi được ở bên cạnh Bạn, nghe Bạn nói, nhìn Bạn cười và khiến chúng tôi cảm thấy yêu mến cuộc sống của mình hơn, trân trọng cuộc sống của mình hơn và yêu mến Bạn nhiều hơn. Đó là lý do Bạn đã đến trong cuộc sống này!

Trong niềm tin của chúng ta, Bạn đã được mời gọi để trở về Ngôi Nhà chung trước chúng tôi, hãy vững tin Bạn nhé, trong tim tôi mãi mãi có hình ảnh của Bạn!


"26 tuổi.cái tuổi qá đẹp qá hoàn hảo cho một con ng và cũng qá trẻ để chết.thế nhưng tôi lại đang đi vào đoạn cuối của con đường ấy.con đường qá đau thương và đau đớn.nhưng tôi lại cảm thấy con đường ấy thật nhẹ nhàng và tươi đẹp vì bên tôi là gia đình bạn bè bằng hữu.ko còn gì fai tiếc nuối và lưu luyến trong kiếp ng này nữa.bây giờ có ra đi cũng cảm thấy thật thanh thản.
những ngày khổ đau vừa qa thật lòng cám ơn gia đình ng thân bạn bè và anh em xa gần đã tiếp thêm sức mạnh cho tôi.để tôi có đủ can đảm đi tiếp đoạn đường còn lại của đời ng.rồi mai này tôi sẽ xa tất cả tôi chỉ mong ng ở lại sẽ đc bình an và hạnh phúc.trọn kiếp vẫn mãi bình an.chân thành cảm ơn rất nhiều.tôi-be-oanh."


“Dân chủ là kết quả của những cuộc đấu tranh, của chiến lược, sự khéo léo, tầm nhìn, và lòng dũng cảm”, và rằng nơi nào mà nền dân chủ thành công thì nơi ấy cần có sự tận tụy, tài năng, lòng can đảm, và niềm đam mê tự do – “và đó là nơi mà hai từ ‘chính trị’ mang ý nghĩa tốt đẹp nhất”, Larry Diamond đã viết như vậy trong cuốn sách “Tinh thần Dân chủ” của ông.

Giáo sư Chính trị học Larry Diamond (ĐH Stanford) là một nhà khoa học xã hội chuyên tâm. Ông từng đảm nhận nhiệm vụ nghiên cứu sự cẩu thả của Mỹ trong việc xây dựng nền dân chủ ở Iraq, và kết quả của nghiên cứu này được trình bày trong cuốn “Squandered Victory”.
Tác phẩm “Tinh thần Dân chủ” (The Spirit of Democracy) là một dự án rộng hơn, nó đi từ Malawi tới Singapore, rồi Venezuela. Trong cuốn sách này, Diamond nghiên cứu các quốc gia có nền dân chủ bị sụp đổ tính từ thời điểm “làn sóng dân chủ hóa thứ ba” bắt đầu vào năm 1974 và cho đến nay (2008) vẫn chưa hồi phục. Ông không chỉ kể ra những quốc gia đã quá phi dân chủ như Nigeria – bị chi phối bởi tham nhũng nặng nề, mà còn cả Nepal, Thái Lan và quần đảo Solomon.
Ông nghiên cứu về cái gọi là “căn bệnh của sự cai trị mang tính cá nhân” ở châu Phi, cũng như vai trò của chế độ quân chủ, chủ nghĩa dân túy và Hồi giáo ở Trung Đông đối với sự sụp đổ của dân chủ. Một nghiên cứu bi quan đến vậy có thể khiến người đọc cảm thấy “Tinh thần Dân chủ” mang một nỗi sầu thê thảm. Song trên thực tế, Diamond lại không hoàn toàn bi quan cho lắm: ông tin rằng rồi đây gần như cả thế giới sẽ tiến tới dân chủ bằng cách này hay cách khác.
Ông viết, “Vào giữa những năm 1990, càng ngày tôi và rất nhiều đồng nghiệp của tôi càng nhận thức rất rõ rằng, nếu ba phần năm các quốc gia trên thế giới (nhiều trong số đó còn nghèo đói và không thuộc phương Tây) có thể chuyển mình thành những nền dân chủ, thì không có lý gì mà phần còn lại của thế giới không làm được điều đó.” Thậm chí, ông còn tin rằng các nước như Trung Quốc và Iran sẽ sớm trở thành các nền dân chủ.
Diamond cảm thấy lạc quan bởi ông đem so sánh cái hiện tại đầy những thất bại về dân chủ so với cái quá khứ hồi năm 1974, khi ông còn là thủ lĩnh sinh viên trong các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Ông nhắc lại rằng, trong quá khứ ấy, tinh thần dân chủ không hề thịnh hành. “Chỉ một phần tư số các quốc gia độc lập lựa chọn chính phủ của họ bằng các cuộc bầu cử cạnh tranh, công bằng và tự do”.
Khuynh hướng Marxist và chủ nghĩa dân tộc đã bắt đầu nổi lên ở châu Á và châu Phi vào thời đó. Diamond nhận thấy rằng, chế độ Haile Selassie sụp đổ ở Ethiopia đã khiến cho “hầu hết các quốc gia Châu Phi hạ Sahara rơi vào tay của quân đội hoặc các chế độ độc đảng”.
Ở khu vực Mỹ Latin, các chính phủ vốn được bầu lên một cách dân chủ cuối cùng cũng bị quân đội lật đổ và phải chịu đựng những luật lệ cai trị hà khắc. Ở Liên Xô, chủ nghĩa toàn trị không chỉ chi phối khu vực liên bang mà còn bao trùm lên cả các quốc gia vệ tinh Đông Âu quanh nó. Những nơi khác đầy rẫy hỗn loạn. Phe cánh Khmer Đỏ đã sớm kiểm soát Campuchia và giết chết khoảng một triệu đến hai triệu người (trong tổng số bảy triệu dân). Trong cộng đồng các nước Arabs, chỉ có Lebanon là một nền dân chủ.
Trong khi đó, chính quyền Mỹ lại đang bị ám ảnh bởi cuộc chiến tranh Lạnh trước sự bành trướng của Cộng sản, và rồi phải tìm cách rút khỏi cuộc chiến ở Đông Nam Á – khi mà cuộc chiến đã lấy đi sinh mạng của 58 nghìn công dân Mỹ cũng như hàng triệu người dân Việt Nam.
Vào thời điểm đó, Diamond đã thực hiện một chuyến đi dài ngày để tìm hiểu những nơi đang thay đổi, dù là xấu đi hay đang tốt lên. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là Bồ Đào Nha. Vài tháng trước đó, Phong trào cácLực lượng Vũ trang đã tiến hành đảo chính lật đổ chế độ độc tài – bán phát-xít tồn tại suốt gần 50 năm. Tại đây, Diamond đã chứng kiến cảnh lực lượng cộng sản và các lực lượng chính trị khác đối đầu quyết liệt trong một chính phủ mới.
Sau đó, ông đi về phía Nam tới Nigeria, nền dân chủ lớn nhất và hứa hẹn nhất của châu Phi. Tuy vậy, đất nước này đang rơi vào tình trạng “bất ổn kinh tế và chính trị” do bị cuộc nội chiến tàn phá dữ dội.
Từ châu Phi, Diamond đã đi đến Trung Đông, tới Ai Cập và Israel. Cả hai nước này đều đang dần khôi phục sau cuộc xung đột năm 1973. Tiếp đó là Thái Lan, đất nước “đang loay hoay tìm cách xây dựng nền dân chủ”, và Đài Loan, đất nước mà ông gọi là “một trong những quốc gia độc tài quan trọng trong phép màu Đông Á”.
Ở một khía cạnh nào đó, thì cuộc hành trình xuyên qua những miền đất ấy đã truyền cảm hứng cho sự nghiệp của Diamond. Qua những trải nghiệm của riêng mình, ông nhận ra rằng số phận của một nền dân chủ không hoàn toàn bị quyết định bởi các sự kiện lịch sử hay thậm chí các lực lượng trong hệ thống chính trị, mà thật sự nó đến từ niềm đam mê và nhiệt huyết của những con người đơn lẻ.
Ông viết rằng, “dân chủ là kết quả của những cuộc đấu tranh, của chiến lược, sự khéo léo, tầm nhìn, và lòng dũng cảm”, và rằng nơi nào mà nền dân chủ thành công thì nơi ấy cần có sự tận tụy, tài năng, lòng can đảm, và niềm đam mê tự do – “và đó là nơi mà hai từ ‘chính trị’ mang ý nghĩa tốt đẹp nhất”.
Ông đưa ra dẫn chứng từ cuộc cách mạng “máy ủi” phi thường của Serbia vào tháng 10 năm 2000, khi một liên minh dân chủ gồm các đảng đối lập, cùng với một nhóm sinh viên và những người nông dân lái máy kéo để về thủ đô Belgrade và huy động hơn một triệu người tham gia cuộc biểu tình. Họ đã lật đổ chế độ cai trị tàn bạo của Slobodan Milosevic – điều mà các chính trị gia bất tài không thể nào làm được trong suốt một thập niên chịu cảnh chiến tranh tàn bạo và suy thoái kinh tế. Cuộc cách mạng ôn hoà này đã trở thành tấm gương cho toàn khu vực, tiêu biểu nhất là ở Georgia và Ukraine.
Cuốn sách “Tinh thần Dân chủ” của Diamond đặt ra câu hỏi rằng, liệu có phải dân chủ chỉ có thể tồn tại ở các nước giàu có và có trình độ học vấn cao, với tầng lớp trung lưu mạnh mẽ. Và có phải tất cả mọi người đều thực sự mong muốn có được nền dân chủ, hay là vẫn có những người – chẳng hạn như người Trung Quốc – tin rằng độc tài là cách tốt nhất để điều hành một quốc gia?
Để trả lời câu hỏi này, Diamond đi tìm hiểu các lực lượng đóng góp cho dân chủ, từ những tác động nội bộ đã dẫn đến hình thành xã hội dân sự, cho tới những áp lực bên ngoài như là thuyết phục ngoại giao hoặc trừng phạt kinh tế. Diamond nhấn mạnh tầm quan trọng của Quỹ Quốc gia vì Dân chủ (NED), được thành lập vào năm 1983 để thúc đẩy các nền dân chủ ở nước ngoài, với những nền dân chủ thành công mà nó đã mang đến cho Ba Lan và Nicaragua.
Đáng chú ý nhất là những phân tích của Diamond về sức ảnh hưởng của người dân đến quá trình dân chủ hóa. Diamond lấy ví dụ bằng một câu chuyện về Alejandro Toledo, cựu lãnh đạo của Peru, từ một cậu bé chăn cừu nghèo khổ đã trở thành một tổng thống tham vọng và đầy lý tưởng. Nhiệm kỳ năm năm của Toledo tuy không thành công về mặt chính trị, nhưng Diamond đã coi đây là một bài học ở Mỹ Latinh.
Các cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo dân chủ ở Trung Quốc và châu Phi đã cho chúng ta biết đến những cá nhân đầy lý tưởng đang tìm kiếm sự thay đổi. Ngay cả ở nước Nga hiện nay, nơi mà Diamond tin rằng dân chủ đã không còn tồn tại kể từ thời của Boris Yeltsin, thì vẫn có những nhà báo can đảm như Anna Politkovskaya, người đã bị giết chết vì cố gắng viết ra sự thật.
Dầu mỏ là một yếu tố quan trọng trong câu chuyện về sự thụt lùi của nền dân chủ ở Nga, cũng như ở nhiều quốc gia khác. Trong số 23 quốc gia có nền kinh tế bị chi phối bởi “lời nguyền dầu mỏ”, không hề có lấy một quốc gia nào được coi là dân chủ. Từ Algeria cho tới Venezuela, “tất cả các quốc gia giàu dầu mỏ trên thế giới vẫn tiếp tục chìm trong chế độ độc tài hoặc bị rơi vào nền độc tài kể từ sau năm 1974, năm khởi đầu của làn sóng dân chủ hóa thứ ba”. Theo Diamond, “khi nguồn thu từ dầu mỏ tăng lên, thì dân chủ sụt giảm”.
Cuốn sách “Tinh thần Dân chủ” của Diamond không phải là kiểu sách dành cho tất cả mọi người. Nó chứa quá nhiều số liệu thống kê so sánh, dữ liệu của Ngân hàng Thế giới và các bảng xếp hạng của Freedom House. Nó đòi hỏi độc giả phải thực sự chú tâm. Song nó cũng đưa ra cơ sở vững chắc cho những ai hoài nghi luận điểm của Seymour Martin Lipset, rằng khi đất nước càng giàu thì triển vọng duy trì nền dân chủ càng lớn.
Diamond khẳng định rằng các quốc gia thuộc thế giới thứ ba chưa hẳn sẽ loay hoay mãi trong các chế độ độc tài. Ông chỉ ra, ngay cả những nơi như Burundi và Sierra Leone, sau các cuộc nội chiến tàn bạo và đẫm máu, cũng đã trở thành các nền dân chủ (dẫu còn đối mặt với nhiều rủi ro). Dân chủ có thể là một thứ gì đó xa xỉ, nhưng vấn đề chẳng nằm ở việc quốc gia giàu có hay nghèo khổ. Tất cả phụ thuộc vào sự nhiệt thành và sự tận tâm của người dân.


Thật vậy, thông điệp của cuốn sách được tóm gọn trong lời đề tặng của Diamond cho ba biểu tượng của dân chủ: Gandhi, Vaclav Havel và Daw Aung San Suu Kyi.
Diamond đưa ra một dự đoán đầy triển vọng rằng, ngay cả “những quốc gia như Iran và Trung Quốc, dù có vẻ như vẫn đang miễn nhiễm với các xu hướng dân chủ toàn cầu, song nhiều khả năng sẽ trở thành các nền dân chủ trong hai hoặc ba thập niên tới”.
Vậy thì, “nếu Trung Quốc có thể dân chủ hóa, tại sao toàn bộ thế giới lại không?”

Nguồn: http://luatkhoa.org/2017/05/gioi-thieu-sach-tinh-dan-chu-cua-larry-diamond/


Cuộc sống luôn cần chúng ta có một thái độ rõ ràng, dù rằng, có thể, để che đậy thái độ rõ ràng đó chúng ta cần một hay nhiều vẻ bên ngoài. Nhưng những vẻ ngoài, cách thể hiện này không che đậy thái độ bên trong theo hướng tiêu cực, mà phải theo hướng tích cực. Và cho dù thế nào đi chăng nữa, hãy có một thái độ rõ ràng cho cuộc sống - cuộc đời của chính mình.

Thái độ rõ ràng cho công việc.
Thái độ rõ ràng cho bạn bè.
Thái độ rõ ràng cho gia đình.
Thái độ rõ ràng cho lý tưởng.
Thái độ rõ ràng cho niềm tin
Và thái độ rõ ràng cho hy vọng.

Công việc để nuôi sống bản thân, đơn gian để kiếm tiền và suy cho tới tận cùng - ngoại trừ rất rất ít những vị Thánh trong lịch sử nhân loại, con người đều cần phải biết cách làm việc hoặc biết cách kiếm tiền để nuôi sống chính mình.

Từ trong công việc, chúng ta sẽ tìm thấy bạn bè. Hãy chọn cho mình cách tìm bạn, cách sống với bạn và cách cư xử với bạn. Vì bạn bè cần ở tấm lòng, cần ở sự đồng cảm, cần ở chân thành nên sẽ có rất ít những bạn bè để cùng ta nâng chén rượu mừng vui hay chia sớt nỗi buồn sâu cạn.

Từ những người bạn, chúng ta xây dựng gia đình. Và khi có gia đình, cũng hãy suy đến tận cùng, một gia đình tốt sẽ quan trọng hơn những điều tốt đẹp khác: bạn bè, công việc...! Nhưng vì sự tốt đẹp của tình yêu, trân trọng, chia sẻ và cảm thông trong gia đình, sẽ làm cho tất cả những điều còn lại tốt đẹp theo, hoàn thiện theo.

Lý tưởng thì ai cũng có, chỉ khác nhau ở tầm vóc và cách đặt gọi. Chính lý tưởng - một sự hoàn hảo trọn vẹn 100% sẽ đặt những nền móng cho thái độ của cuộc đời. Sống cách nào, lòn cúi hay chính trực hay lòn cúi một chút, chính trực một chút. Thái độ với lý tưởng sẽ cho cuộc đời chúng ta kết quả như thế.

Niềm tin là điều mà ai cũng phải có trong cuộc đời mình. Tin vào một tôn giáo, tin vào một cá nhân, tin vào một điều gì đó được mách bảo. Từ niềm tin, và niềm tin sẽ bắt chúng ta phải sống như thế nào với niềm tin đó của mình. Dù có đôi lúc trật nhịp, lỡ bước nhưng vì có một niềm tin rõ ràng, chúng ta sẽ quay trở lại đúng quỹ đạo cuộc sống rõ ràng của mình.

Và cuối cùng, hy vọng - điều kỳ diệu mà Tạo Hóa đã đặt để trong sâu thẳm cõi lòng và sâu xa tiềm thức của con người. Khi tất cả mọi thứ trên cõi đời này, cuộc sống này đều sụp đổ, khi tất cả mọi người đều quay lưng, thì hy vọng là điều duy nhất khiến chúng ta còn lý do để sống, để chiến đấu và để giữ vững niềm tin của mình.

Thái độ rõ ràng,
Suy nghĩ rõ ràng,
Hành động rõ ràng,
Và kết quả rõ ràng!


Đã một năm
Và mọi chuyện thoáng qua như một cơn gió
Thế đó,
Sau một năm thì mọi thứ đã khác nhiều rồi!
Nghĩ tới lại buồn thì lại tốn thêm thời gian,
Nhập nhằng chi cho tuổi thanh xuân trôi qua trong nước mắt,
Nghiệm ra rồi thì mới biết,
Cũng chỉ là…
Giấc mộng trăm năm!
Là mộng bao nhiêu lâu giấc Nam Kha…
Cũng chỉ là giấc mộng!
Người với người
Cũng chỉ hai người dưng ngược lối,
Lỡ đi ngang qua cuộc đời nhau trong vô tình của duyên số.
Rồi số phận,
Lại đưa người đến với nhau,
Với yêu thương chan chứa ân tình và kỷ niệm…
Nhưng vô tình
Người dưng đã đến
Cũng vô tình người đi vẫn hóa người dưng!
Thôi thì tất cả,
Hãy cho vào trong trái tim,
Nơi một góc
Đã trao đi nhưng chẳng bao giờ… còn muốn nhận lại!
Gửi người dưng,
Để người mang đi và đi về nơi của người không có ta!
Phần còn lại, nơi trái tim đã mất một phần cùng ký ức mang theo,
Gửi vào tiếp, với thời gian
Như liều thuốc tiên chữa muôn vàn thứ bệnh,
Cả bệnh vô tình, người với người, ngược lối bước qua nhau, cho lòng mình đau
Người có nhớ?
Người có quên?
Người cứ nhớ, cứ nhớ đi vì lòng đâu muốn quên,
Cứ nhớ đi rồi một ngày sẽ quên,
Vì thời gian sẽ che mờ hết tất cả,
Những gì ta đang gọi,
Là…
Quá khứ…!
Và yêu thương!

Sài Gòn, ...viết tặng một người bạn thân!


01/9/2012 - 01/3/2017

Một quãng đường 4 năm 6 tháng vậy rồi cũng đến ngày kết thúc. Tôi lại bước đi một hành trình mới trên một con đường mới. Bỏ lại sau lưng một quãng thời gian đủ dài với những bước cha6n chập chững vào đời. Trên những bước chân đó, tôi cảm nhận thấy niềm vui, nỗi buồn, thất vọng, hy vọng và cả tình yêu thương.

Hơn 4 năm đó, tôi đã tìm thấy những lý tưởng của tuổi trẻ nơi những người thanh niên mặc áo xanh với đầy nhiệt huyết, khát khao cống hiến sức trẻ cho hai từ "Tổ quốc" thiêng liêng. Họ đã sống như thế và như thể họ chẳng cần biết rồi sau đó sẽ là gì - sau màu áo xanh đó sẽ là gì? Tôi sai. - Vì những điều đó không cần phải nghĩ đến. Vì cuộc sống có xô đẩy và cuộc đời dù có bóp nghẹt lý tưởng của chúng ta đi chăng nữa, nhưng chính chúng ta mới là người quyết định vận mệnh của mình, của gia đình mình và của Tổ quốc mình.

Tôi không bao giờ nghĩ một trong những con người chiến thắng trong đêm 19/5 năm ấy lại là mình. Chiến thắng trong một cuộc thi với tầm vóc của TP và với một lĩnh vực chưa bao giờ tôi nghĩ mình thật sự có khả năng. Nhưng tôi đã! Chiến thắng đó là kỷ niệm đẹp nhất, tuyệt vời nhất và tự hào nhất tôi đã có trong quãng thời gian 4 năm đó. Nó cho tôi biết mình có thể làm được gì! Cảm ơn những người bạn của tôi!

Tôi đã từng hy vọng, từng nhiệt huyết với con đường Thư viện ấy - và đến tận bây giờ, trong tim tôi, vẫn còn một ngọn lửa vẫn âm ỉ - âm ỉ đến nao lòng! Nhưng cho đến khi tôi đã nhận ra được tất cả không như mơ [...]


Đầu tháng 3, chính thức kết thúc hợp đồng với đơn vị. Đến giữa tháng quyết đinh đi đăng ký bảo hiểm thất nghiệp vì dù sao 4 năm 6 tháng qua mình cũng phải đóng đầy đủ, không sót tháng nào. Nhưng do thiếu sổ BHXH - mà đơn vị hẹn đến cuối tháng có sẽ gọi lên, thế là chờ. Ngày 30, bên đơn vị nói có, thế là chiều mình lên lấy sổ BHXH.

Qua ngày 31/3, sáng sớm đưa vợ đi chợ xong cũng 9g, liền chạy lên trung tâm ở Bình Thạnh. Lên đến nơi do đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, nên bốc số ngồi chờ. Số thứ tự mình 1060, đến nơi đang giải quyết số 1045, thế là ngồi chờ. Đi vôi photo 2 sổ BHXH, có 8 tờ mà chỗ photo của Trung tâm Bình Thạnh này lấy 10.000, đúng là lạm thu, lạm quyền.

Ngồi chờ một hồi thiệt lâu, đến số mình thì hí hửng mang lên cho "đầy tớ" xem. Hồ sơ đầy đủ, giấy tờ rõ ràng, "đầy tớ" xem xét xong bảo ngày 3/5 quay lại lấy kết quả. Định mệnh cuộc đời sao trớ trêu vậy??? Mình nghỉ 1/3, 30/3 có sổ, 31/3 mang sổ đi làm thủ tục rồi giờ hẹn 3/5 lên lấy kết quả??? Trong thời gian đó thì tiền trợ cấp thất nghiệp của mình đâu???

Đúng là quan liêu, đúng quy trình. Théo nào mà đúng quy trình áp dụng cho tất cả mọi người, mà dân đen thì chịu thiệt mà mấy ông quan chức, đầy tớ thì lại giàu có là sao??? Công lý ở đâu???


1.1 Kế hoạch xét hỏi
Hỏi người bị kiện 
- Ông cho biết căn cứ pháp lý để ban hành QĐ 643 ngày 19 tháng 5 năm 2013 về việc cấp đất cho ông Hoàng Văn Tuấn là gì?
- Đất được cấp cho ông Hoàng Văn Tuấn có đang tranh chấp hay không?
- Ông cho biết thẩm quyền cấp đất dành cho hộ gia đình là của ai?
- Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền cấp đất cho hộ gia đình hay không?
- Giấy chứng nhận số 94/CN ngày 01/7/1992 là cấp nhà hay cấp đất cho ông Hoàng Văn Ngọc.
- Ông cho biết nếu người đã qua đời không để lại di chúc, thì tài sản được phân chia theo quy định của pháp luật là đúng hay sai?
- Nếu nhiều người đồng thừa kế cùng ủy quyền cho một người thừa kế, thì phải có xác nhận của tất cả các người đồng thừa kế là đúng hay sai?

Hỏi người liên quan:
- Ông cho biết, đất ông đang sử dụng có nguồn gốc từ năm 1992 đúng hay sai?
- Đất này do nông trường Thanh Khê cấp cho ông theo diện kinh tế mới đúng hay sai?
- Vậy đất ông đang sử dụng là do nông trường Thanh Khê cấp cho cha ông là Hoàng Văn Ngọc theo diện kinh tế mới là đúng hay sai?
- Khi tiến hành xin cấp GCNQSDD với cơ quan Nhà nước, đất ông đang sử dụng có tranh chấp với ai hay không?
- Ông cho biết cha ông và bà nội của ông qua đời vào năm nào?
- Trước khi qua đời, cha ông có để lại di chúc hay không?
- Ông có bao nhiêu anh chị em và mẹ ông hiện đang ở đâu?
- Khi đứng tên nhận thừa kế, ông có được các anh chị em và mẹ ông cùng ký xác nhận để ông được nhận toàn bộ thừa kế hay không?
- Bà nội của ông là bà Lê Thị Khuyên có ký xác nhận để ông được nhận toàn bộ thừa kế hay không?
- Trước năm 1992 bà Ngoan sinh sống tại đâu? Với ai?
- Trước năm 1992, ông nội của ông là ông Hoàng Văn Bảy có được nông trường Thanh Khê cấp đất theo diện kinh tế mới hay không?
- Đất ông đang sử dụng có phải nguồn gốc do nông trường Thanh Khê cấp cho ông nội của ông hay không?

Hỏi người khởi kiện:
- Bà Thanh cho biết lý do thực hiện đại diện ủy quyền cho bà Hoàng Thị Ngoan?
- Bà Thanh cho biết nguồn gốc đất được cấp cho ông Hoàng Văn Tuấn theo QĐ 643 trên đây là từ đâu mà có?
- Bà biết sự việc sổ hộ khẩu tại căn nhà số 5B/33 ấp 9, xã Thanh Tảo, huyện Bình Đà, TP. H không có tên mẹ bà là Lê Thị Khuyên và em bà là Hoàng Thị Ngoan khi nào?
- Khi biết sự việc trên, bà đã làm gì?
- Trước ngày 19 tháng 5 năm 2013, ấp 9 và UBND xã Thanh Tảo có tổ chức họp mặt các bên để giải quyết tranh chấp đất tại căn nhà 5B/33 trên đây không?
- Khi quyết định khởi kiện ra Tòa, nguyện vọng của bà đối với thửa đất 5B/33 trên đây là gì?

1.2 Bài luận cứ
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, vị đại diện UBND huyện Bình Đà cùng luật sư đồng nghiệp và tất cả mọi người đang có mặt trong khán phòng ngày hôm nay, tôi là Nguyễn A – luật sư thuộc VPLS A., Đoàn luật sư TP. H.

Hôm nay, tôi có mặt trong phiên tòa này vơi tư cách là người bảo vệ cho bà Hoàng Thị Ngoan – người có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng từ QĐ 643/QĐ-UB do UBND huyện Bình Đà ban hành ngày 19 tháng 5 năm 2013 cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Văn Tuấn. Bà Ngoan đã có giấy ủy quyền cho bà Hoàng Thị Thanh – chị ruột, thay mặt bà tham gia phiên Tòa hôm nay.

Dựa trên hồ sơ vụ án, quá trình thẩm vấn công khai tại phiên Tòa, tôi cho rằng có đầy đủ căn cứ pháp lý để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Ngoan và tuyên hủy toàn bộ QĐ 643 trên đây. Sau đây tôi xin trình bày các căn cứ pháp lý này:

Thứ nhất, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành sai thẩm quyền.
Khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai 2003, quy định về thẩm quyền cấp GCNQSDĐ đối với hộ gia đình như sau:

“2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.”

Đối chiếu với QĐ 643, phần xác định thẩm quyền ban hành trong quyết định đã thể hiện người ký ban hành là Phó Chủ tịch ký thay Chủ tịch UBND huyện Bình Đà. Như vậy, căn cứ vào Khoản 2 Điều 52 LĐĐ 2003, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 đã ban hành sai về mặt thẳm quyền.

Thứ hai, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành trái với trình tự cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/5/2013, ông Hoàng Văn Tuấn được UBND huyện Bình Đà cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất tại địa chỉ 5B/31 ấp 9, xã Thanh Tảo, huyện Bình Đà, TP. H. Nhưng trước đó, bà Hoàng Thị Ngoan và bà Lê Thị Khuyên đã có đơn xin giải quyết tranh chấp tại chính thửa đất này. Cụ thể ngày tháng gửi đơn như sau:

• Ngày 14/5/2010, bà Hoàng Thị Ngoan gửi “Đơn yêu cầu xin xác nhận chủ quyền đất” đến chính quyền ấp 9, xã Thanh Tảo. Nội dung đơn tại bút lục 31. Đơn này đã được ông trưởng ấp 9 Phạm Tuấn Hợi ký tên xác nhận. Ngoài ra, đơn còn kèm theo sổ hộ khẩu NK4 thể hiện cha mẹ bà Ngoan và bà Ngoan là người có tên trong hộ khẩu này.

• Ngày 06/02/2013, bà Lê Thị Khuyên gửi “Đơn yêu cầu” đến UBND xã Thanh Tảo với nội dung xin cấp chủ quyền đất cho con bà là Hoàng Thị Ngoan. Nội dung đơn tại bút lục 32.

• Ngày 30/4/2013, bà Hoàng Thị Ngoan gửi “Đơn yêu cầu” đến UBND xã Thanh Tảo với nội dung tương tự như trên. Nội dung đơn tại bút lục 33.

Qua những đơn từ trên đây đã thể hiện thửa đất 5B/31 hiện đang có tranh chấp giữa các bên trong gia đình ông Hoàng Văn Tuấn. 

Căn cứ theo Điểm a Khoản 2 Điều 48 NĐ 181/2004/NĐ-CP hướng đẫn thi hành LĐĐ 2003 quy định về cấp GCNQSDĐ như sau:

“2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện sau:
a) Đất không có tranh chấp;”

Như vậy, vì thửa đất tại địa chỉ 5B/31 ấp 5, xã Thanh Tảo, huyện Bình Đà, TP. H. hiện đang có tranh chấp nên UBND huyện Bình Đà không được phép cấp GCNQSDĐ cho bất cứ ai cho đến khi tranh chấp được giải quyết xong. Do đó, QĐ 643 ngày 19/5/2013 đã được ban hành trái với trình tự cấp GCNQSDĐ theo luật định.

Thứ ba, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành dựa trên căn cứ không chính xác.

Trước tiên, QĐ 643 ban hành dựa trên tờ trình ngày 01/5/2013 của trưởng phòng TN & MT huyện Bình Đà. Nội dung tờ trình cho rằng thửa đất 5B/31 không có tranh chấp là sai so với thực tế, nội dung tranh chấp đã được trình bày ở trên.

Tiếp theo, nội dung tờ trình ghi rằng “đất do nông trường Thanh Khê quản lý cấp cho dân đi kinh tế mới, gia đình Hoàng Văn Ngọc được cấp nhà đất vào năm 1992” dựa vào GCN 94/CN ngày 01/7/1992 do nông trường Thanh Khê cấp là sai về mặt nội dung căn cứ. Tại bút lục số 19 thể hiện nội dung giấy chứng nhận, ông Hoàng Văn Ngọc là chủ hộ căn nhà số 8 dãy T40 lô 7 (nay là địa chỉ 5B/31) chỉ được cấp ngôi nhà vách lá, không thể hiện nội dung ông Ngọc được cấp đất tại địa chỉ này. Do đó, căn cứ viện dẫn của Trưởng phòng TN & MT huyện Bình Đà là sai về mặt thực tế.

Thứ tư, QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 được ban hành không đúng theo quy định về thừa kế.

Ông Ngọc qua đời ngày 16/5/2010, mẹ ông là bà Lê Thị Khuyên qua đời sau đó 3 năm vào ngày 02/4/2013. Trước khi mất, ông Ngọc không để lại di chúc, do đó toàn bộ tài sản của ông được chia theo pháp luật.

Điểm a Khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Căn cứ vào lời khai của bà Hoàng Thị Thanh tại bút lục 59 và lời trình bày của ông Tuấn tại phiên Tòa hôm nay, ông Ngọc có tất cả 6 người con và vợ ông hiện nay vẫn còn sống, cùng với tại thời điểm ông Ngọc qua đời, mẹ ông là bà Lê Thị Khuyên vẫn còn. Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật trên đây, toàn bộ tài sản của ông phải được chia đều thành 8 phần, bao gồm: 6 người con, 1 người vợ và mẹ ruột. Nếu có sự thay đổi về phân chia thừa kế, phải có đồng ý của tất cả 8 người đồng thừa kế trên đây.

Trong nội dung giấy ủy quyền nhận thừa kế ngày 17/3/2010 cho ông Hoàng Văn Tuấn, chỉ có xác nhận của 3 người là Hoàng Văn Tăng, Hoàng Thị Vân, Hoàng Thị Lệ. Như vậy là còn thiếu 4 người đồng thừa kế. Do đó, nội dung ủy quyền này không hợp lệ, trái với quy định của pháp luật, dẫn đến việc QĐ 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 cũng được ban hành trái pháp luật.

Kính thưa HĐXX, dựa vào những phân tích ở trên cùng với các cơ sở pháp lý được viện dẫn, căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 163 Luật TTHC 2010, tôi kính đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Ngoan, tuyên hủy toàn bộ Quyết định 643/QĐ-UB ngày 19/5/2013 do Chủ tịch UBND huyện Bình Đà ban hành.

Trên đây là toàn bộ quan điểm trình bày của tôi, kính mong HĐXX xem xét. Xin trân trọng cảm ơn HĐXX và mọi người đã chú ý lắng nghe!


1.1 Kế hoạch xét hỏi
Hỏi người bị kiện 
- Ông Thành cho biết căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để Thanh tra Sở VHTT-DL G. ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10 tháng 03 năm 2014 đối với bà Nguyễn Thị Tuyết?
- Theo QĐ 23, bà Tuyết đã có hành vi vi phạm gì? Mức xử phạt là bao nhiêu?
- Theo Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23 tháng 12 năm 2013 do Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở VHTT-DL lập, bà Tuyết đã vi phạm về nội dung gì?
- Ông cho biết, vì sao QĐ 23 ban hành ngày 10/3/2014 dựa trên BB 11 ngày 23/12/2013 nhưng lại có nội dung xử phạt khác hoàn toàn?
- Ông cho biết Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm quy định tại Điều 25  Mục II Chương 2 Nghị định 167/2013 ngày 12 tháng 11 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì thẩm quyền xử phạt thuộc về Thanh tra LĐTB-XH hay Thanh tra VHTT-DL?
- Như vậy, ông cho biết hành vi vi phạm trong QĐ 23 thuộc thẩm quyền xử phạt của ai?
- Ông cho biết thời hạn ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với trường hợp của bà Tuyết tối đa bao nhiêu ngày?
- Như vậy, QĐ 23 ban hành ngày 10 tháng 3 năm 2014 đã vượt quá thời hạn xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết kể từ ngày lập biên bản xử lý vi phạm là đúng hay sai?

Hỏi người khởi kiện:
- Bà Tuyết cho biết ngày 23 tháng 12 năm 2013, nhà trọ Hoàng Lan do bà làm chủ đã xảy ra sự việc gì?
- Biên bản 11 ngày 23 tháng 12 năm 2013 do Thanh tra VHTT-DL lập có nội dung như thế nào?
- Nội dung biên bản 11 có đúng với sự việc diễn ra vào tối 23 tháng 12 năm 2013 hay không?
- Bà nhận được QĐ 23 ngày 10 tháng 3 năm 2014 vào ngày tháng năm nào?
- Nội dung xử phạt trong QĐ 23 là gì?
- Bà Tuyết khẳng định cho HĐXX biết bà có hành vi vi phạm như trong QĐ 23 đã nêu hay không?
- Bà giải thích như thế nào đối với trường hợp bà Nguyễn Thị Lành không được ghi tên vào sổ đăng ký của nhà trọ Hoàng Lan?
- QĐ 23 đã gây ra những ảnh hưởng như thế nào cho công việc và cuộc sống của bà?
- Trong phiên tòa này, bà mong muốn HĐXX làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bà?

1.2 Bài luận cứ
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện Viện kiểm sát, vị đại diện Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao – Du lịch tỉnh P. cùng luật sư đồng nghiệp và tất cả mọi người đang có mặt trong khán phòng ngày hôm nay, tôi là Nguyễn A – luật sư thuộc VPLS A., Đoàn luật sư tỉnh G.

Hôm nay, tôi có mặt trong phiên tòa này vơi tư cách là người bảo vệ cho quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của bà Nguyễn Thị Tuyết – là người bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10 tháng 3 năm 2014 do Chánh thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. ký quyết định ban hành. Quyết định số 23 đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của bà Tuyết, đã xử phạt bà Tuyết lỗi phạt mà bà Tuyết không hề vi phạm,  do đó bà Tuyết đề nghị quý Tòa tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 23 trên đây.

Quyết định số 23 trên đây được ban hành dựa trên Biên bản xử lý vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23 tháng 12 năm 2013 do Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. lập lúc 21g10’ cùng ngày đối với hoạt động bị cho là vi phạm hành chính của bà Tuyết trong quá trình quản lý cơ sở kinh doanh của mình là nhà trọ Hoàng Lan. Sự việc được tóm tắt ngắn gọn như sau:

Vào thời điểm ban tối khi Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra nhà nghỉ Hoàng Lan, tại phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành đang có quan hệ vợ chồng với nhau, trong đó bà Nguyễn Thị Lành không được chủ cơ sở nhà nghỉ Hoàng Lan ghi tên vào sổ lưu trú của cơ sở. Tiếp theo, khi kiểm tra tại phòng số 9 thì bắt gặp ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy đang cùng nằm xem tivi. Trên cơ sở kiểm tra hai phòng này, Đoàn kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính số 11 đối với bà Tuyết. Trong Biên bản số 11 này, Đoàn kiểm tra chỉ kết luận “chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên.”

Vậy mà trong QĐ số 23 ban hành hơn 2 tháng sau ngày lập Biên bản số 11, Chánh thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. lại xử phạt bà Tuyết về tội (xin được trích dẫn nguyên văn): “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở  kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” với mức phạt 15.000.000 đồng căn cứ vào Khoản 1 Điều 25 NĐ 167/2013/NĐ-CP. Như vậy, có thể thấy rằng Quyết định 23 này đã xử phạt bà Tuyết một lỗi vi phạm mà bà không hề thực hiện và Biên bản số 11 xử lý vi phạm ngày 23/12/2013 không hề đề cập đến.

Ngoài nội dung không đúng với thực tế sự việc đã diễn ra, Quyết định 23 còn vi phạm nghiêm trọng các quy định về thẩm quyền, căn cứ pháp lý và thời hiệu xử phạt. Đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết, tôi xin đề nghị HĐXX tuyên hủy toàn bộ Quyết định 23 vì những lý do sau:

1. Quyết định 23 ban hành dựa trên Biên bản 11 nhưng Biên bản 11 lại căn cứ vào Nghị định 158/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, hoàn toàn không quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh ngành nghề có điều kiện.

2. Biên bản số 11 không kết luận bà Tuyết có hành vi thiếu trách nhiệm để người khác lợi dụng thực hiện việc mua bán dâm nhưng Quyết định 23 lại xử lý vi phạm hành chính đối với bà Tuyết về hành vi này.

3. Căn cứ vào Điều 58 Luật XLVPHC 2012, Biên bản làm việc số 11 ngày 9/3/2014 tại trụ sở Sở VHTT-DL tỉnh G. chỉ được lập 01 bản và cho rằng bà Tuyết đã ký tên thừa nhận hành vi như QĐ 23 nêu ra là không có giá trị pháp lý vì đây không phải biên bản vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, phải được lập tại thời điểm và tại nơi xảy ra vi phạm và lập thành ít nhất 02 bản có giá trị pháp lý như nhau. Do đó, Biên bản làm việc số 11 ngày 9/3/2014 tại trụ sở Sở VHTT-DL tỉnh G không có giá trị pháp lý làm chứng cứ trong phiên tòa ngày hôm nay.

4. Căn cứ Điểm e Khoản 2 Điều 6 TT 33/2010 ngày 05/10/2010 của Bộ Công an, ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành lưu trú tại phòng số 11 và ông Phan Văn cùng bà Nguyễn Thị Thùy tại phòng số 9 không bắt buộc phải xuất trình giấy đăng ký kết hôn khi vào nhà trọ.

5. Tất cả các đôi lưu trú tại phòng 9 và 11 trên đều có bản tường trình ngay sau khi Đoàn kiểm tra kiểm tra và có đầy đủ thông tin cá nhân của từng người, hoàn toàn không có việc mua bán dâm như QĐ 23 đề cập.

6. Bà Tuyết đề nghị được nộp phạt khung thấp nhất vì bà Tuyết thừa nhận mình sai trong việc không ghi tên bà Nguyễn Thị Lành vào sổ quản lý như quy định, nên  chấp nhận chịu xử phạt đúng với lỗi vi phạm và xin xử phạt ở mức thấp nhất, bà Tuyết không hề thừa nhận mình có hành vi thiếu trách nhiệm để người khác lợi dụng thực hiện mua bán dâm như QĐ 23 đã khẳng định.

7. Căn cứ vào Điều 66 Luật XLVPHC năm 2012 về “Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, kể từ thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan ngày 23/12/2013 đến ngày ra Quyết định xử phạt hành chính ngày 10/3/2014 là 77 ngày, tức đã vượt quá thời hạn 60 ngày ra Quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật.

8. Và quan trọng hơn hết, căn cứ Điều 69 NĐ 167/2013 ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định về Thẩm quyền xử phạt hành chính của Thanh tra, Quản lý thị trường thì nội dung xử phạt của Quyết định 23 thuộc thẩm quyền ban hành của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội, không phải thẩm quyền của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Kính thưa Qúy Tòa, bà Tuyết thừa nhận mình đã có sai sót khi không ghi tên khách lưu trú theo quy định và sẵn sàng chịu mọi hình thức chế tài đúng pháp luật. Tuy nhiên, Quyết định 23 đã căn cứ vào hành vi mà bà Tuyết không hề thực hiện để xử phạt, qua đó gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết. Đồng thời, Quyết định 23 đã được ban hành trái thẩm quyền, vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì vậy, cùng với những phân tích ở trên, căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 163 Luật TTHC 2010, kính đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy toàn bộ Quyết định 23 ngày 10/3/2014 do Chánh Thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G. ban hành.

Trên đây là toàn bộ quan điểm trình bày của tôi, kính mong HĐXX xem xét để thân chủ tôi là bà Nguyễn Thị Tuyết được đảm bảo mọi quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng của mình theo quy định của pháp luật.

Xin trân trọng cảm ơn!


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ - Abraham Lincoln đã từng nói: "Nếu cho tôi 6 giờ để chặt một cái cây, tôi sẽ dành 4 tiếng để mài rìu". Câu nói của ông mang nhiều ý nghĩa, bài học cho cuộc sống cũng như công việc, một trong số đó là về sự chuẩn bị. Trước khi bắt đầu thực hiện bất kỳ công việc nào, chúng ta đều cần suy nghĩ, nghiền ngẫm và chuẩn bị thật kỹ lưỡng mọi thứ có liên quan để công việc đó đạt được kết quả như ý muốn. Nghề luật sư cũng thế và một trong số đó, việc chuẩn bị kỹ lưỡng mọi vấn đề cần thiết trước khi bắt tay soạn thảo hợp đồng lại càng đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo hơn nữa của người luật sư.

Trong thực tiễn các hoạt động có liên quan đến việc xác lập hợp đồng giữa các bên, những tranh chấp xảy ra thường xoay quanh các điều khoản trong hợp đồng.  Những điều khoản được biên soạn không kỹ lưỡng, thiếu thống nhất về mặt ngữ nghĩa, nội dung biên soạn thừa hoặc thiếu, giải thích không rõ ràng là một trong những lý do phát sinh rủi ro và tranh chấp khi hợp đồng có hiệu lực.

Việc biên soạn hợp đồng ngoài việc xoay quanh mục đích các bên hướng đến, còn phải mang tính dự liệu những biện pháp đối với các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thật vậy, bất kỳ loại hợp đồng nào – đặc biệt là loại hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại, luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện mà nguyên nhân có thể là: sự thiếu thiện chí của các bên, giải thích sai hợp đồng, lợi dụng kẽ hở trong hợp đồng nhằm mục đích trục lợi bất chính, những sự kiện bất khả kháng mà nội dung hợp đồng không đề cập, các vấn đề mang tính nguyên tắc, chuyên sâu của mục đích, ngành nghề mà hợp đồng hướng đến không được quy định rõ ràng, cụ thể…

Bản chất hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện, hợp pháp của các bên và mang tính ràng buộc, buộc tuân thủ về quyền lời và nghĩa vụ của bên này với bên kia và ngược lại. Nếu có tranh chấp phát sinh, bên thứ ba sẽ tùy vào nội dung hợp đồng (không xét trường hợp vô hiệu) để bắt buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình được quy định trong hợp đồng. Nếu hợp đồng rơi vào trường hợp vô hiệu nhưng có bất lợi, thiệt hại cho một trong các bên thì nghĩa vụ bồi thường của bên gây ra thiệt hại sẽ căn cứ nhiều nhất vào các điều khoản, quy định trong hợp đồng cùng những điều kiện khác theo quy định của pháp luật.

Với vị trí của nghề luật sư đang dần được nâng cao trong xã hội, việc nhờ cậy đến sự giúp đỡ của luật sư trong việc thương thảo, đàm phán, soạn thảo hợp đồng là yêu cầu, nhu cầu tất yếu của xã hội. Người luật sư đòi hỏi trước tiên phải có nền tảng pháp lý vững chắc, sau đến là hiểu biết chuyên sâu về một hoặc một số lĩnh vực nhất định và cuối cùng là kinh nghiệm sống phong phú. Đây là những yêu cầu bắt buộc phải có để luật sư soạn thảo hợp đồng theo yêu cầu của khách hàng.

Nội dung hợp đồng thường xoay quanh lợi ích kinh tế, vật chất giữa các bên. Lĩnh vực hợp đồng hướng đến thường đòi hỏi nhiều kiến thức, vấn đề mang tính chuyên ngành, chuyên môn của lĩnh vực đó. Vì vậy, hợp đồng tự bản chất đã mang trong mình bản chất lợi ích và yêu cầu chuyên môn chuyên sâu. Do đó, khi soạn thảo, người luật sư đòi hỏi các kỹ năng trên cùng việc nắm vững hai nguyên tắc này để xây dựng một bản hợp đồng phù hợp nhất, bảo vệ lợi ích chính đáng tốt nhất cho khách hàng.

Với những lý do trên, học viên chọn đề tài “Các công việc luật sư cần thực hiện trước khi soạn thảo hợp đồng cho khách hàng” cho bài thu hoạch của mình nhằm có cơ hội tìm hiểu kỹ hơn, sâu sắc hơn các công việc liên quan đến việc soạn thảo hợp đồng mà luật sư cần thực hiện trước khi chính thức soạn thảo hợp đồng theo yêu cầu của khách hàng.

2. Đối tượng và phạm vi tìm hiểu
Đối tượng: những công việc luật sư cần thực hiện trước khi soạn thảo hợp đồng cho khách hàng. 
Phạm vi:
Giai đoạn trước khi soạn thảo hợp đồng dành cho khách hàng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tìm kiếm, phân tích và tổng hợp tài liệu: phương pháp này được thực hiện bằng cách tìm kiếm các tài liệu liên quan đến lĩnh vực hợp đồng, công việc của luật sư về soản thảo hợp đồng và các văn bản quản lý Nhà nước có liên quan đến hợp đồng.

4. Kết cấu của báo cáo
Chương I: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng.
Chương II: Các công việc luật sư cần thực hiện trước khi soạn thảo hợp đồng.
Chương III: Công việc soạn thảo hợp đồng theo yêu cầu của khách hàng.
---//---

CHƯƠNG I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG.
1.1 Một số khái niệm 
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông do Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2002, hợp đồng được định nghĩa: là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản. Theo đó, cách hiểu phổ thông biết rằng hợp đồng phải có từ hai bên trở lên tham gia, cùng quy định quyền và nghĩa vụ của các bên về một vấn đề nào đó.

Đối với quy định của pháp luật, Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) tại Điều 121 đã quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Từ quy định này, có thể thấy rằng hợp đồng là một loại giao dịch dân sự được pháp luật bảo đảm thực hiện nếu tuân thủ các “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự” được quy định tại Điều 122 BLDS 2005.

Cũng trong BLDS 2005, tại Điều 388 đã quy định: Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Đồng thời, BLDS 2005 cũng quy định một số loại hợp đồng dân sự như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng ủy quyền…

Mặc dù ngay tại Điều 1 BLDS 2005 đã quy định về Phạm vi điều chỉnh của BLDS đối với các quan hệ dân sự trong xã hội – cách riêng đối với hợp đồng, nhưng trong thực tiễn áp dụng đã không tránh khỏi sơ sót của những người áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng trong lĩnh từng vực cụ thể như thương mại, lao động, tín dụng… do chỉ tìm hiểu hợp đồng thông qua luật chuyên ngành. Do đó, tại BLDS 2015 (sẽ có hiệu lực từ 01/01/2017), “Điều 385: Khái niệm hợp đồng” đã định nghĩa “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Ngoài ra, theo Điều 406 BLDS 2005 thì tùy theo tiêu chí, hợp đồng còn có thể phân thành nhiều loại như: hợp đồng song vụ, hợp đồng đơn vụ, hợp đồng chính, hợp đồng phụ, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, hợp đồng có điều kiện.

Như vậy, qua thực tiễn hoạt động xã hội và việc thay đổi quy định pháp luật theo chiều hướng điều tiết các quan hệ xã hội ngày một hiệu quả, chuẩn mực hơn, khái niệm hợp đồng đã được phân định cụ thể và rõ ràng hơn.

Ngoài những quy định chung về hợp đồng nêu trên, trong thực tiễn xã hội còn có những loại hợp đồng khác như hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động; hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo thời gian… (Điều 62 Luật Đấu thầu 2013); hợp đồng hợp tác kinh doanh… Các loại hợp đồng này được quy định theo luật chuyên ngành hoặc qua thực tiễn áp dụng pháp luật mà được các bên giao kết hợp đồng lựa chọn làm tên gọi nhằm thể hiện chính xác mục đích giao kết của mình.

Tóm lại, định nghĩa hợp đồng đã được quy định tại BLDS, tùy theo từng chuyên ngành, lĩnh vực, tiêu chí sẽ có những loại hợp đồng khác nhau. Hợp đồng phải có ít nhất hai chủ thể tham gia. Hợp đồng phải quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. Hợp đồng thường được soạn thành văn bản (vì pháp luật vẫn đảm bảo thực hiện hợp đồng miệng nếu đúng pháp luật).

1.2 Soạn thảo hợp đồng
Soạn thảo hợp đồng là một công việc không hề đơn giản nếu thực hiện một cách nghiêm túc và chuẩn mực. Thật vậy, cho dù chỉ là một thỏa thuận thuê một căn phòng nhỏ khoảng 10 m2 để ở, nếu phải lập hợp đồng để bảo đảm quyền và lợi ích của các bên thuê và cho thuê, sẽ phải thể hiện rất nhiều nội dung, như: thời gian thuê, thời hạn thanh toán, điều kiện thanh toán, thời gian sử dụng, điều kiện sửa chữa, nâng cấp, trường hợp cho thuê lại, trường hợp hư  hỏng do khách quan, chủ quan…

Suy rộng ra, nếu các bên cùng xác lập một hợp đồng mà giá trị lợi ích hay mục đích hướng đến về vật chất hoặc tinh thần đều mang ý nghĩa đặc biệt giữa các bên, thì nội dung và hình thức được thể hiện trong hợp đồng phải rất kỹ lưỡng, thận trọng và trang trọng.

Như định nghĩa đã nêu, các quan hệ xã hội đã làm phát sinh rất nhiều loại hợp đồng và pháp luật chỉ quy định những loại hợp đồng mang chất tiêu biểu, thông dụng. Cùng với việc mỗi hợp đồng sẽ có những độ phức tạp khác nhau liên quan đến những chuyên ngành, lĩnh vực cụ thể trong xã hội. Do đó, việc soạn thảo hợp đồng đòi hỏi không những nội dung thể hiện phải rõ ràng, chi tiết, cụ thể, đúng chuyên ngành, lĩnh vực mà hình thức thể hiện cũng phải rõ ràng, phù hợp với chuyên ngành, mục đích, nội dung mà hợp đồng hướng đến. Vì vậy khi soạn thảo hợp đồng, cần lưu ý hai vấn đề gồm: hình thức và nội dung.

1.2.1 Hình thức
Hình thức của hợp đồng là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của những nội dung  dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định. Theo đó, những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định. BLDS 2005 đã quy định về hình thức của hợp đồng như sau:

“Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự
1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Như vậy, xét trên tiêu chí quy định của pháp luật, hình thức hợp đồng chia thành hai loại:
- Hình thức hợp đồng không buộc tuân theo quy định của pháp luật
- Hình thức hợp đồng buộc phải tuân theo quy định của pháp luật
Các hình thức này có thể được thể hiện dưới ba dạng:
- Lời nói
- Văn bản
- Hành vi cụ thể

Trong thực tiễn cuộc sống, các dạng hình thức trên đây đều được áp dụng và hình thức hợp đồng bằng văn bản có thể được xem là sử dụng nhiều nhất. Hợp đồng văn bản tùy tính chất, mức độ, tầm quan trọng của nội dung mà nó thể hiện sẽ phải buộc tuân hoặc không tuân theo một hình thức nhất định của pháp luật. Thường hình thức mà pháp luật buộc phải tuân theo là công chứng hoặc chứng thực, hoặc đăng ký, xin phép ở một số trường hợp ít thông dụng khác. 

Khi soạn thảo hợp đồng, bắt buộc người soạn thảo phải hình thành một văn bản vật chất cụ thể và các bên đều phải giữ các văn bản giống nhau, có hiệu lực như nhau. Căn cứ vào văn bản hợp đồng các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình và thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia vì vậy bản hợp đồng đó coi như là một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình. Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý vững chắc hơn so với các hình thức còn lại.

Ngoài ra, vì phải soạn thảo hợp đồng thành một văn bản nhất định, mang tính chất và nội dung quan trọng đối với các bên, nên ngoài những quy định cơ bản về hình thức hợp đồng đã được pháp luật quy định, người soạn thảo còn phải tuân theo các nguyên tắc soạn thảo văn bản khác như tính logic, tính hợp lý, bố cục các phần trong hợp đồng, ngôn ngữ, văn phong sử dụng phải phù hợp với ngữ cảnh, nội dung thể hiện bên trong hợp đồng… Mặt hình thức này của hợp đồng tuy không được BLDS quy định, nhưng trong thực tiễn soạn thảo hợp đồng lại đóng một vai trò hết sức quan trọng cho việc lựa chọn, thực hiện và tuân theo nội dung hợp đồng được thể hiện.

Như vậy, về mặt hình thức, pháp luật đã có những quy định chung nhất để hợp đồng được bảo đảm thực hiện hoặc không thực hiện vì quyền lợi chính đáng giữa các bên. Cùng với đó, trong thực tiễn, hình thức hợp đồng còn phải tuân theo các nguyên tắc nhất định nhằm chuyển tải một nội dung chính xác và phù hợp theo yêu cầu của các bên liên quan trong hợp đồng.

1.2.2 Nội dung
Nội dung hợp đồng là tổng thể những vấn đề, sự việc thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng đúng theo quy định của pháp luật. Điều 402 BLDS 2005 quy định về nội dung của hợp đồng dân sự như sau: 

“Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm
2. Số lượng, chất lượng;
3. Giá, phương thức thanh toán;
4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
5. Quyền, nghĩa vụ của các bên;
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
7. Phạt vi phạm hợp đồng;
8. Các nội dung khác”

Pháp luật đã quy định những nội dung cơ bản như trên mà hợp đồng phải thể hiện thông qua các điều khoản được soạn thảo. Mục đích của việc quy định này nhằm bảo đảm một nền tảng cơ bản mà nội dung hợp đồng phải thể hiện và là căn cứ pháp lý để giải quyết tính hiệu lực của hợp đồng nếu có tranh chấp phát sinh giữa các bên về nội dung hợp đồng. Ngoài những nội dung cụ thể này các bên còn có thể thỏa thuận xác định với nhau thêm một số nội dung khác tùy theo tính chất, mục đích của hợp đồng.

Bản chất hợp đồng khi soạn thảo đã phải mang những quy chuẩn, nguyên tắc, chuyên ngành, chuyên sâu của mục đích mà các bên hướng đến. Hợp đồng mua bán một căn hộ chung cư đòi hỏi các vấn đề phải được soạn thảo phải xoay quanh quyền, nghĩa vụ của bên bán và bên mua, cách thức thanh toán, thời gian, địa điểm thanh toán, các đặc tính liên quan đến căn hộ giao nhận, thuế, bảo hành, phạt vi phạm hợp đồng… Tất cả những vấn đề này sẽ được chuyển tải thành từng Điều và những Khoản trong một Điều sao cho bảo đảm được qyền và nghĩa vụ chính đáng của các bên. Các điều khoản này đều phải được hiểu theo một nghĩa duy nhất đối với các bên liên quan.

Ngoài ra, BLDS 2005 còn quy định về phụ lục hợp đồng như sau:
“Điều 408. Phụ lục hợp đồng
1. Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.
2. Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.”

Phụ lục hợp đồng luôn liên quan đến nội dung chính của hợp đồng và được xác lập, thêm vào khi các bên cảm thấy cần thiết phải có phụ lục kèm theo hợp đồng chính.

Tóm lại, nội dung hợp đồng cần thể hiện trước hết quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, phải được hiểu theo một nghĩa chung duy nhất, thường có chế tài kèm theo đối với bên vi phạm hợp đồng, tùy theo mục đích, đối tượng của hợp đồng mà các điều khoản được phân chia khác nhau và có mức độ chuyên ngành, chuyên sâu khác nhau.

1.3 Người soạn thảo hợp đồng
Pháp luật không quy định về người soạn thảo hợp đồng phải là ai, làm công việc gì, do đó, người soạn thảo hợp đồng là bất kỳ ai trong xã hội và thường sẽ có mức độ chịu trách nhiệm khác nhau đối với hợp đồng do mình biên soạn. Đồng thời, hình thức và nội dung hợp đồng đều đòi hỏi những kỹ năng, yếu tố, trình độ nhất định từ người soạn thảo.

Tùy theo tính chất quan trọng hay bản chất của hợp đồng mà các bên liên quan có thể tự mình biên soạn hoặc nhờ một bên không liên quan khác soạn thảo, miễn là phù hợp với mục đích mà các bên hướng đến và đúng pháp luật. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thường có những biểu mẫu soạn sẵn về hợp đồng liên quan đến một vấn đề cụ thể. Các mẫu hợp đồng này thường do họ tự biên soạn hoặc nhờ một bên cố vấn, có thể là luật sự hoặc đối tượng khác.

Tóm lại, đối với người soạn thảo hợp đồng, cần nắm rõ mục đích mà các bên hướng đến để soạn thảo những điều khoản tương thích phù hợp. Cần có kiến thức cơ bản hoặc chuyên sâu liên quan đến lĩnh vực trong hợp đồng để chuẩn bị hoặc dự liệu biện pháp ngăn chặn, khắc phục, giảm thiểu những rủi ro có thể phát sinh khi thực hiện hợp đồng. Đồng thời, người soạn thảo cần nắm vững các nguyên tắc về hình thức hợp đồng và cách thức soạn thảo để hợp đồng không những chặt chẽ về nội dung mà còn chuẩn mực, logic, phù hợp về mặt hình thức.
---//---

CHƯƠNG II.
CÁC CÔNG VIỆC LUẬT SƯ CẦN THỰC HIỆN TRƯỚC KHI SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG
2.1 Xác định chủ thể hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng dân sự là những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, các hệ thống pháp luật đều qui định chủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định. Theo đó, yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đồng “có năng lực hành vi dân sự” là một trong những  điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực.

Luật sư là người được một trong các bên lựa chọn để soạn thảo hợp đồng, mặc dù vậy, trước khi soạn thảo, luật sư cần xác định rõ các yêu cầu về chủ thể - tìm hiểu rõ về các bên tham gia vào hợp đồng. Đối với khách hàng của mình, tùy theo là cá nhân hay pháp nhân, luật sư cần khẳng định chính xác trước khi soạn thảo hợp đồng theo yêu cầu của khách hàng rằng khách hàng có đầy đủ năng lực hành vi, tư cách pháp lý để là một bên trong hợp đồng.

Đối với các tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân cần kiểm tra tư cách của người đại diện theo pháp luật được quy định trong hồ sơ của tổ chức, doanh nghiệp. Nếu khách hàng là người được ủy quyền, cần có giấy ủy quyền có giá trị pháp lý.

Việc kiểm tra và xác định tư cách chủ thể đối với bên còn lại trong hợp đồng thường sẽ được thực hiện trong quá trình đàm phán trước khi thực hiện soạn thảo và ký kết hợp đồng. Nếu một bên mang tư cách pháp nhân, trong quá trình đàm phán, luật sư cần tư vấn để khách hàng tìm hiểu kỹ về hồ sơ, năng lực chuyên môn, tư cách pháp lý của đối tác để bảo đảm hợp đồng sẽ có hiệu lực thi hành đầy đủ khi được ký kết.

Vấn đề xác định chủ thể hợp đồng trước khi soạn thảo hợp đồng thường đơn giản nhưng vô cùng quan trọng. Ví dụ như việc đối tác là người hoặc đơn vị được ủy quyền từ một bên thứ ba, thời điểm đàm phán, soạn thảo, ký kết, thực hiện hợp đồng phát sinh trường hợp thời gian ủy quyền hết hạn, dẫn đến việc thực hiện hợp đồng gặp rủi ro, thậm chí phát sinh tranh chấp, bất lợi dành cho khách hàng.

Như vậy, trước khi soạn thảo hợp đồng, luật sư cần xác định các chủ thể tham gia vào hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp lý hay không, bằng cách kiểm tra, quan sát hồ sơ cá nhân, hồ sơ pháp nhân của các bên tham gia ký kết hợp đồng. Điều này sẽ đảm bảo cho hợp đồng có hiệu lực thi hành khi không vi phạm một trong các nguyên tắc quy định tại “Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự” BLDS 2005.

2.2 Xác định mục đích của hợp đồng
Trong mọi trường hợp, luật sư phải luôn làm rõ, nắm bắt cặn kẽ và hiểu biết sâu rộng về mục đích soạn thảo hợp đồng mà các bên ký kết. Việc xác định mục đích chính yếu của hợp đồng không phải chỉ dựa vào yêu cầu, trình bày của khách hàng mà còn phải dựa vào chính phán đoán và nhận xét của luật sư. Vì mặc dù là một bên soạn thảo độc lập và không liên quan, nhưng luật sư có trách nhiệm nghề nghiệp và năng lực chuyên môn để xác định hợp đồng mình soạn thảo có thật sự đúng mục đích khách hàng trình bày hay không hay khách hàng tiềm ẩn một mục đích khác, không trình bày cùng luật sư.

Mục đích hợp đồng trong trường hợp được khách hàng trình bày rõ ràng, cụ thể, chi tiết và luật sư căn cứ vào đó để soạn thảo, thì bản thân luật sư phải đặt mình vào vị trí khách hàng khi soạn thảo hợp đồng, tức là có hiểu biết thêm cả lĩnh vực chuyên môn được đề cập trong hợp đồng. Luật sư có năng lực và trình độ pháp lý để cung cấp một bản hợp đồng chặt chẽ, đúng quy định pháp luật cho khách hàng. Luật sư còn buộc phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng liên quan đến lĩnh vực mà mục đích của hợp đồng hướng đến.

Từ việc xác định được chính xác mục đích của hợp đồng, luật sư sẽ phân chia nội dung hợp đồng thành các phần và điều khoản phù hợp sao cho quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng được bảo đảm an toàn một cách chính đáng nhất. Đồng thời đưa ra những chế tài, biện pháp khắc phục, bồi thường thiệt hại trong trường hợp khách hàng gặp rủi ro không thể tránh khỏi. Các phần và điều khoản này phải gắn liền với từng mục đích cụ thể (nếu có) và mục đích chung duy nhất của hợp đồng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các phần và điều khoản trong hợp đồng sẽ góp phần làm cho mục đích chính đáng của hợp đồng được bảo đảm thực hiện.

Vì vậy, sau khi đã chắc chắn các chủ thể đã đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia ký kết hợp đồng, luật sư phải xác định đúng mục đích cuối cùng mà khách hàng (hoặc các bên) hướng đến. Từ mục đích đã được xác định đó, luật sư sẽ xây dựng các phần, các điều khoản xoay quanh và làm cho hợp đồng trở thành phương thế vững chắc nhất bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của khách hàng hoặc các bên tham gia hợp đồng.

2.3 Xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh
Chủ thể và mục đích hợp đồng được xác định chuẩn xác sẽ giúp cho việc xác định những quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng được chính xác. Thật vậy, nếu mục đích các bên hướng đến trong hợp đồng là mua bán một căn hộ chung cư thì những quy phạm pháp luật điều chỉnh chắc chắn sẽ khác với hợp đồng mua bán một căn nhà thông thường.

Ngoài ra, đối với các chủ thể không giống nhau về quốc tịch, địa điểm ký kết, khác biệt ngôn ngữ, văn hóa… việc lựa chọn hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh hợp đồng là điều cực kỳ quan trọng. Có thể xem việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng cũng thuộc phần xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh.

Một hợp đồng thương mại quốc tế giữa một bên là doanh nghiệp Việt Nam và một bên là doanh nghiệp Hoa Kỳ ký kết hợp đồng mua bán sản phẩm cà phê từ Brazil. Hợp đồng này được các bên ký kết tại Singapore và lựa chọn các quy phạm pháp luật của Vương quốc Anh để điều chỉnh hợp đồng. Các bên thống nhất lựa chọn trung tâm trọng tài thương mại X tại Nga sẽ là cơ quan tài phán trong trường hợp có tranh chấp xảy ra. Nội dung và hình thức hợp đồng đều đúng theo pháp luật các bên đã thống nhất lựa chọn.

Việc giao thương toàn cầu hóa ngày nay đã trở nên vô cùng thông thoáng, hình thức và nội dung hợp đồng phức tạp như trên hoàn toàn có thể xảy ra và rõ ràng các bên phải lựa chọn một hệ thống quy phạm pháp luật làm căn cứ để điều chỉnh hợp đồng. Nhưng vấn đề đặt ra là liệu doanh nghiệp Việt Nam có cần đưa vào hợp đồng việc tuân theo pháp luật Việt Nam khi thị trường tiêu thụ sản phẩm cà phê nguồn gốc Brazil là Việt Nam? Luật sư soạn thảo hợp đồng sẽ phải chú ý vấn đề này và đưa vào hợp đồng những quy phạm pháp luật cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên khách hàng của mình.

Đối với một hợp đồng có thể có rất nhiều văn bản pháp luật cùng điều chỉnh. Để có thể xác định đúng văn bản pháp luật điều chỉnh, luật sư cần nắm vững nguyên tắc áp dụng pháp luật, xác định đúng đối tượng và phạm vi áp dụng của từng văn bản cho từng quan hệ hợp đồng.

Việc lựa chọn các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng còn đòi hỏi ở luật sư một năng lực tập họp nhanh chóng, chính xác những văn bản điều chỉnh đến nội dung, mục đích của hợp đồng do mình soạn thảo. Công việc này không được thừa hoặc thiếu, hoặc nhất định phải đảm bảo các nội dung chính có văn bản quy phạm chính xác điều chỉnh. Việc xác định đúng, chuẩn xác các văn bản uqy phạm pháp luật này vừa thể hiện trình độ, năng lực của luật sư, vừa giúp khách hàng tin tưởng hơn vào luật sư và hạn chế tối đa những rũi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

2.4 Chuẩn bị kiến thức liên quan
Luật sư đã có trình độ, kỹ năng chuyên sâu trong lĩnh vực pháp lý khi áp dụng vào hợp đồng. Tuy nhiên, vì hợp đồng luôn mang tính chất chuyên sâu, chuyên ngành về một lĩnh vực, ngành nghề nhất định nên đòi hỏi ở luật sư đồng thời phải có sự hiểu biết đối với lĩnh vực mình soạn thảo. Vì vậy, trước khi soạn thảo hợp đồng, luật sư cần chuẩn bị, tìm kiếm những thông tin, vấn đề có liên quan đến nội dung trong hợp đồng. Để khi hợp đồng đã được soạn thảo, khách hàng sẽ cảm thấy tin tưởng không chỉ ở năng lực pháp lý mà còn cả khả năng nắm bắt, hiểu biết về vấn đề của khách hàng, tạo dựng niềm tin và sự tin tưởng nơi khách hàng dành cho luật sư.

Trước hết, luật sư cần tự mình chuẩn bị các kiến thức liên quan này. Bằng tư duy pháp lý và các căn cứ pháp lý đã được xác định sẽ là nền tảng, điều chỉnh nội dung hợp đồng, luật sư chuẩn bị những căn cứ pháp lý khác có thể có liên quan một cách gián tiếp khi hợp đồng được thực hiện. Đồng thời, quan trọng hơn hết, luật sư cần nắm rõ, hiểu kỹ những khái niệm, định nghĩa, diễn giải, ứng dụng đối với những công cụ, vấn đề, giải pháp, ứng dụng mang tính chất chuyên ngành, chuyên sâu liên quan đến nội dung của hợp đồng.

Ngày nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã cho phép luật sư có thể tìm kiếm, chuẩn bị nhiều kiến thức, thông tin cùng lúc, từ nhiều nguôn khác nhau cho một vấn đề. Vì vậy, trong quá trình tìm hiểu sự việc, đánh giá, tìm kiếm các kiến thức liên quan đến nội dung, mục đích của hợp đồng, luật sư phải nắm bắt kỹ lượng, cụ thể và chi tiết các vấn đề có liên quan mà mình đã xác định, tìm kiếm được.

Cuối cùng, luật sư phải hệ thống các kiến thức, thông tin mình đã tìm được thành một thể thống nhất, mạch lạc, logic và hài hòa với các quy định của pháp luật là nền tảng chính yếu của hợp đồng. Các kiến thức, thông tin này sẽ được văn bản hóa thành những điều khoản cụ thể trong hợp đồng, quy định chi tiết về quyền, nghĩa vụ chính đáng của các bên và đặc biệt là mức chế tài, bồi thường thiệt hại, xử lý vi phạm một cách chính đáng đối với các bên tham gia hợp đồng.

Như vậy, cùng với các công việc cần chuẩn bị ở trên, trước khi bắt tay soạn thảo hợp đồng, cùng với kiến thức pháp lý sẵn có, luật sư phải tự trang bị, tìm hiểu, tăng khả năng hiểu biết cho chính mình về các vấn đề mang tính chất chuyên ngành, chuyên sâu có liên quan đến nội dung, mục đích của hợp đồng sẽ do các bên ký kết và thực hiện trong tương lai.

2.5 Trao đổi với khách hàng
Khi cần thiết phải làm rõ các yêu cầu của khách hàng trong quá trình chuẩn bị soạn thảo hợp đồng, luật sư cần yêu cầu khách hàng cung cấp thêm các thông tin, tài liệu chứng minh liên quan đến các nội dung hợp đồng để có thể soạn thảo như những thông tin về các bên trong hợp đồng, đối tượng hợp đồng, yêu cầu về chất lượng sản phẩm, giá cả, phương thức thanh toán… Nếu có vấn đề còn nghi vấn, chưa rõ ràng thì đề nghị khách hàng giải thích thêm và nếu cần thiết, luật sư nên tự xác minh để bảo đảm độ chính xác cao nhất cho vấn đề còn nghi vấn.

Về nguyên tắc, công việc trao đổi với khách hàng cần thực hiện thường xuyên trong quá trình chuẩn bị để soạn thảo hợp đồng. Tuy nhiên, với vai trò là người soạn thảo – tức nhận được sự tin tưởng, ủy thác của khách hàng cho việc thay mặt khách hàng chuẩn bị một bản hợp đồng có giá trị, luật sư nên cân nhắc các vến đề cần tham khảo thêm ý kiến của khách hàng hoặc cách thức thu nhận thông tin thêm từ khách hàng sao cho hợp lý, tránh gây phiền hà đến khách hàng và ảnh hưởng uy tín của luật sư.

Trước khi đưa ra bản hợp đồng chính thức, luật sư sẽ phải có bản dự thảo hợp đồng để khách hàng và các bên xem qua, thỏa thuận với nhau. Vì vậy, luật sư có thể căn cứ, dựa trên tính chất của vấn đề cần xem xét thêm để các bên trong hợp đồng cùng thảo luận, thống nhất các vấn đề này. 

Việc trao đổi thêm thông tin với khách hàng nếu xảy ra cũng nên được chuẩn bị, trình bày sao cho khách hàng hiểu được tính chất, mức độ của vấn đề mà luật sư buộc phải có sự tư vấn trực tiếp từ khách hàng để soạn thảo một hợp đồng đầy đủ nhất, phù hợp nhất. Việc trao đổi có thể diễn ra dưới hình thức văn bản được gửi đi chính thức từ luật sư, một cuộc gặp trực tiếp với khách hàng để thảo luận và trong mọi trường hợp, nên hạn chế việc trao đổi qua điện thoại nếu vấn đề thật sự quan trọng, có thể ảnh hưởng đến việc thực thi hợp đồng trong tương lai.

Tóm lại, sau các bước chuẩn bị ở các mục trên, luật sư đã có thể phác họa cho mình một bản dự thảo và hợp đồng chính thức khá đầy đủ. Việc trao đổi thêm với khách hàng mang tính chất củng cố vững chắc các điều khoản được biên soạn trong hợp đồng. Những vấn đề cần thêm ý kiến từ khách hàng phải là những vấn đề thật sự khó khăn, luật sư không thể tự mình quyết định và bắt buộc phải được khách hàng hỗ trợ. Tránh việc yêu cầu khách hàng hỗ trợ quá nhiều lần hoặc quá nhiều vấn đề, sẽ làm ảnh hưởng đến đánh giá và sự tin tưởng của khách hàng đối với năng lực của luật sư.

2.6 Tham khảo ý kiến chuyên gia
Việc tham khảo ý kiến chuyên gia thể hiện sự thận trọng, cẩn thận của luật sư trong việc soạn thảo hợp đồng. Các đối tượng để luật sư tham khảo này không nhất thiết phải là những chuyên gia về pháp lý, hợp đồng hoặc lĩnh vực liên quan trong hợp đồng mà có thể là những người có khả năng hiểu biết về cách thức soạn thảo hợp đồng, nội dung chính trong hợp đồng, mục đích của hợp đồng… Hay đơn giản là những luật sư đồng nghiệp đã từng thực hiện những bản hợp đồng tương tự.

Trước khi soạn thảo hợp đồng hoặc trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thực hiện hợp đồng, luật sư đều luôn cần chuẩn bị cho mình những nguồn ý kiến tham khảo đáng tin cậy. Hợp đồng mặc dù được soạn thảo trên các cơ sở khách quan và phải trải qua các bước chuẩn bị kỹ lưỡng như trên, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi ý kiến và suy nghĩ chủ quan của luật sư về các vấn đề liên quan trong hợp đồng.

Ngoài ra, nếu bản hợp đồng sau khi soạn thảo và được mang đến cho khách hàng xem xét mà còn quá nhiều vấn đề cần thay đổi, chỉnh sửa sẽ lại càng ảnh hưởng nhiều hơn đến uy tín của luật sư, cũng như đánh giá về năng luật của luật sư từ khách hàng. Hơn nữa, trong bất kỳ công việc nào liên quan đến hành nghề luật sư, thận trọng bao giờ cũng mang lại hoặc bảo vệ nhiều lợi ích chính đáng hơn cho không chỉ luật sư mà còn cho cả khách hàng (ngoại trừ những tình huống đặc biệt cần có sự quyết định ngay tức khắc).

Khác với việc trao đổi ý kiến với khách hàng đôi khi cần sự trang trọng về hình thức trao đổi giữa luật sư và khách hàng, việc tham khảo ý kiến từ một bên độc lập có thể được luật sư sử dụng linh hoạt, phù hợp từng trường hợp, vấn đề cần tham khảo sao cho có thể đạt được mong muốn cuối cùng, hợp lý cho những ý định của mình.

Tóm lại, cùng với việc trao đổi thêm ý kiến với khách hàng, việc tham khảo ý kiến chuyên gia của luật sư khi chuẩn bị soạn thảo hợp đồng cũng là một điều cần thiết và cân nhắc để lựa chọn cách thức, thời điểm sử dụng hợp lý. Việc tham khảo cần khéo léo và tế nhị để bảo đảm quyền lợi của khách hàng, uy tín của luật sư cũng như giá trị của hợp đồng sẽ bảo đảm được thực hiện trong tương lai.
---//---




CHƯƠNG III.
SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG CHO KHÁCH HÀNG
3.1 Dự thảo hợp đồng
Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước 2), hòan thiện – ký kết hợp đồng (bước 3) là một quy trình cần thiết. Soạn dự thảo hợp đồng giúp cho luật sư văn bản hóa những công việc đã chuẩn bị để soạn thảo hợp đồng chính thức, đồng thời dự liệu những gì các bên muốn thực hiện trước khi đàm phán, ký kết hợp đồng chính thức. Dự thảo hợp đồng giống như một bản kế hoạch cho việc đàm phán, khi có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công việc đàm phán và ký kết hợp đồng.

Soạn thảo dự thảo hợp đồng được xem như một giai đoạn chính thức mà luật sư cần thực hiện trong quá trình chuẩn bị hợp đồng để khách hàng đàm phán, ký kết chính thức. Khi soạn bản dự thảo, tất cả các điều khoản, tên gọi, nội dung chính hoặc phụ… đều được thể hiện đầy đủ, chi tiết theo như quá trình đã chuẩn bị của luật sư. Qúa trình chuẩn bị đầy đủ, chi tiết, cẩn thận thì dự thảo hợp đồng sẽ sớm được các bên chấp nhận, đồng ý là hợp đồng chính thức và tiến hành ký kết.

Nếu dự thảo hợp đồng không được chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ dẫn đến uy tín luật sư bị giảm sút, công việc chọn lọc, chuẩn bị lại những nội dung chính và phụ cần soạn thảo theo mục đích của khách hàng sẽ gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, nếu bản dự thảo không đạt được chất lượng như mong muốn của các bên, sẽ kéo dài thời gian đàm phán, ký kết hợp đồng và gây ra những thiệt hại không đáng có cho các bên, trong đó có khách hàng của luật sư.

Vì vậy, khi soạn thảo, luật sư phải xem bản dự thảo hợp đồng như một hợp đồng chính thức, qua đó đặt hết toàn bộ sự tập trung, năng lực, kỹ năng của mình để hoàn thành một bản dự thảo chất lượng, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng và các bên tham gia hợp đồng.

3.2 Soạn thảo hợp đồng chính thức
Khi đến giai đoạn này, luật sư đã hoàn thành xong các bước chuẩn bị để soạn thảo hợp đồng theo ý kiến khách hàng. Nếu bản dự thảo hợp đồng có những vấn đề cần chỉnh sửa, luật sư sẽ làm việc trực tiếp với khách hàng để hoàn thiện những vấn đề đó.

Về cơ bản, hợp đồng thường có ba phần cơ bản: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần ký kết. Sự phân chia hợp đồng thành các phần như trên là cần thiết. Một mặt giúp cho hình thức hợp đồng được trình bày chuyên nghiệp, logic, dễ nhận biết các thành phần chính, nội dung chính mà các bên cần trao đổi. Mặt khác, nội dung hợp đồng sẽ dễ dàng được trao đổi, đánh gái theo ý kiến của các bên, từ đó tiến tới việc thống nhất/không thống nhất về một vấn đề cụ thể và có phương án thỏa thuận phù hợp nhất.

Phần mở đầu thường nghiêng về hình thức trình bày và xác định tư cách chủ thể của các bên.

Phần nội dung sẽ bao gồm những điều khoản quy định về đối tượng của hợp đồng; tiêu chí về giá, cách tính, phương thức thanh toán; các điều khoản liên quan đến quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên trong hợp đồng và cuối cùng là các điều khoản về hiệu lực của hợp đồng, bảo đảm thực hiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại liên quan đến hợp đồng.

Phần ký kết là các điểu khoản về việc xác nhận ý chí tự do xác lập hợp đồng giữa các bên.

Việc soạn thảo hợp đồng là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình hành nghề luật sư và đòi hỏi người luật sư cần luôn luôn nâng cao kiến thức của mình cả chiều sâu và chiều rộng, để khi soạn thảo sẽ có cách nhìn và đánh giá phụ hợp với mục đích cũng như nội dung hợp đồng mà mình hướng đến.
---//---


PHẦN KẾT LUẬN

Soạn thảo hợp đồng là một công việc không hề đơn giản, nhất là hợp đồng thương mại, hợp đồng có nhiều bên tham gia hoặc những hợp đồng có tính chất phức tạp. Hợp đồng là một đối tượng được pháp luật bảo hộ. Bằng những quy định chung trong BLDS và các quy định riêng trong luật chuyên ngành, hợp đồng được bảo đảm các tính chất có hiệu lực, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên trách nhiệm thi hành hợp đồng giữa các bên.

Luật sư với nền tảng pháp lý vững vàng và vai trò ngày càng được nâng cao trong xã hội, đã ngày càng được lựa chọn nhiều hơn cho một bên độc lập soạn thảo hợp đồng theo mục đích và nội dung mà các bên sẽ ký kết hướng đến. Bản chất của hợp đồng luôn phức tạp vì quy định những vấn đề, sự việc liên quan đến một chuyên ngành, chuyên môn nhất định mà chắc chắn luật sư không hoàn toàn nắm bắt được ngay từ đầu.

Nhưng bằng khả năng, tư dúy pháp lý và những quy trình thu thập, xử lý kiến thức, thông tin của mình, luật sư sẽ tiếp nhận và chọn lựa một cách nghiêm túc, phù hợp, hiệu quả các vấn đề này và đáp ứng được yêu cầu của khach hàng. Để đạt được điều đó, luật sư cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi soạn thảo hợp đồng.

Công việc chuẩn bị này đòi hỏi luật sư phải chuyên nghiệp hóa các công đoạn làm việc của mình, nắm vững các kiến thức pháp lý có liên quan, có kỹ năng tìm, phân tích và vận dụng những vấn đề có liên quan. Và cuối cùng là việc trình bày, soạn thảo bản hợp đồng sao cho khách hàng hoàn toàn chấp thuận và đồng ý với đề xuất của luật sư.

Tóm lại, có thể khẳng định được rằng, giai đoạn chuẩn bị, thực hiện những công việc cần làm trước khi soạn thảo hợp đồng là vô cùng quan trọng. Có chuẩn bị tốt, nắm bắt các vấn đề, định hướng, xác định đường đi chính xác cho nội dung hợp đồng, luật sư chắc chắn sẽ soạn thảo thành công một bản hợp đồng vừa thể hiện được khả năng, trình độ của luật sư, vừa đáp ứng yêu cầu của khách hàng. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Từ điển Tiếng Việt phổ thông / Viện ngôn ngữ học, 2002.
2. Giáo trình kỹ năng tư vấn pháp luật / Học viện Tư pháp, 2012.
3. Website Báo Pháp luật Việt Nam điện tử - http://baophapluat.vn/ 
4. Website Bộ Tư pháp – http://www.moj.gov.vn/Pages/home.aspx 
5. Website Công ty luật Hiếu Gia – http://luathieugia.com   
6. Website Công ty luật Dương Gia – https://luatduonggia.vn/ 
7. Website Công ty luật Trí Tuệ Luật – http://www.tritueluat.com 

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.